Bản án 05/2020/HS-ST ngày 16/01/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 05/2020/HS-ST NGÀY 16/01/2020 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 16 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 tại huyện M, thành phố Hà Nội.

HKTT: Thôn M, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: không; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1969 và bà Phạm Thanh Ch, sinh năm 1971; Vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 11 năm 2019 đến nay.

Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

Ngưi làm chứng:

Anh Đỗ Văn H1, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Anh Vũ Hoàng L, sinh năm 1988 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 08 giờ 00 phút ngày 09/11/2019, Nguyễn Văn H đi nhờ xe mô tô của 01 người đàn ông không quen biết từ xã T, huyện M, thành phố Hà Nội đến khu vực bến xe P, thuộc tổ x, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng (H khai không nhớ đặc điểm và không biết biển kiểm soát xe mô tô của người đàn ông này và người này cũng không biết mục đích H đi nhờ xe đến khu vực bến xe Phúc Yên để làm gì). Khi đến khu vực bến xe Phúc Yên, H xuống xe, còn người đàn ông cho H đi nhờ xe đi đâu thì H không biết. Tại đây, H mua của 01 người đàn ông làm nghề xe ôm 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được túi ma túy đá, H cất vào túi quần trước bên phải rồi đi bộ đến khu vực trước cổng Siêu thị Pico thuộc tổ x, phường H, thành phố Phúc Yên ngồi uống nước. Khoảng 10 phút sau, H nhận được điện thoại của bạn nghiện H quen trước đó, tự khai tên là Nguyễn Thị L, sinh năm 1989 ở thôn Đ, xã C, thành phố P hỏi mua ma túy đá với giá 500.000 đồng, do đang sẵn có ma túy trong người nên H đồng ý bán ma túy cho L và hẹn gặp trước cổng trường cấp 3 bán công P thuộc khu vực tổ x, phường H ở gần đó. Lúc này, L đang ở khu vực nhà 10 tầng thuộc phường N, thành phố P, sau khi trao đổi mua bán ma túy với H, L thuê anh H1 là người làm nghề xe ôm chở đến khu vực cổng trường cấp 3 bán công P để gặp H. Khoảng 09 giờ10 phút thì đến nơi, L bảo anh H1 dừng xe lại, H nhìn thấy L liền đứng dậy, đi qua đường sang gặp L. L xuống xe hỏi H “Đồ được không em”, H trả lời “Được chị ạ”. L lấy ra số tiền 500.000 đồng và đưa cho H để mua ma túy, H cầm tiền L đưa ở lòng bàn tay phải rối lấy ra túi ma túy đưa cho L. Khi L vừa cầm túi ma túy do H bán thì bị lực lượng Công an thành phố Phúc Yên bắt quả tang Nguyễn Văn H đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thị L.

Việc thu, tạm giữ tài liệu, đồ vật gồm:

Thu giữ của Nguyễn Thị L: 01 túi nilon màu trắng viền đỏ, bên trong có chứa các tinh thể dạng đá (L khai là túi ma túy mua của H mà có), được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 theo quy định pháp luật; 01 điện thoại di động Nokia X3 màu đen, đã cũ.

Thu giữ của Nguyễn Văn H số tiền 500.000 là tiền do H bán ma túy cho L mà có; 01 điện thoại di động OPPO A33W màu đen, đã cũ.

Tại Bản kết luận giám định số 2384/KLGĐ ngày 13/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định và kết luận: ““1.Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có khối lượng là 0,0668 gam (Không phảy không sáu sáu tám gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”". Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật: A1 = 0,0000 gam cùng toàn bộ bao gói.

Tại Cáo trạng số 05/CT - VKSPY ngày 30 tháng 12 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố Nguyễn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Nguyễn Văn H; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 11 năm 2019, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 09 tháng 11 năm 2019, lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 09 giờ 10 phút ngày 09/11/2019, tại khu vực cổng Trường cấp 3 bán công P, thuộc tổ x, phường H, thành phố P, Công an thành phố Phúc Yên phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H đã có hành vi bán trái phép 0,0668 gam chất ma túy (Methamphetamine) cho đối tượng tự khai tên là Nguyễn Thị L, sinh năm 1989, có HKTT tại thôn Đ, xã C,thành phố P với giá 500.000 đồng. Khi hai bên vừa thực hiện xong việc mua bán ma túy thì bị công an thành phố Phúc Yên bắt quả tang thu giữ cùng tang vật. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 05/CT - VKSPY ngày 30 tháng 12 năm 2019 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Nguyễn Văn H là đối tượng nghiện ma túy từ khoảng cuối tháng 6/2017, tuy chưa có tiền án tiền sự nhưng ham chơi đua đòi, lười lao động. Để có ma túy sử dụng và có tiền tiêu xài, H đã bán trái phép ma túy cho người khác để thu lời bất chính. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, H thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy cần xử lý nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung, cũng như giúp bị cáo cải tạo thành người công dân tốt.

[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh ngày 19/11/2019 của Công an thành phố Phúc Yên cũng như kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa, xác định được Nguyễn Văn H không có nghề nghiệp ổn định, sống lệ thuộc vào kinh tế của gia đình, bản thân không có tài sản gì có giá trị. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về nguồn gốc số ma túy: H khai nhận trước đó đã mua của 1 người đàn ông làm nghề xe ôm ở khu vực bến xe Phúc Yên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên đã xác minh tại địa bàn phường Hùng Vương nhưng chưa xác định được nhân thân của đối tượng có đặc điểm như H đã khai. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đi với đối tượng tự khai tên là Nguyễn Thị L, có hành vi mua ma túy để sử dụng, quá trình làm việc tại trụ sở Công an thành phố Phúc Yên, lợi dụng sơ hở của cán bộ trông giữ, L đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên đã xác minh tại địa phương theo lời khai của L nhưng chưa xác định được đối tượng nào có nhân thân, lai lịch như trên. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đi với anh Đỗ Văn H1, khi chở L đến khu vực cổng trường cấp 3 bán công P để L mua ma túy của H, anh H1 không biết và không có lỗi nên không đề cập xử lý.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với mẫu ma túy A1 = 0,0000 gam và toàn bộ bao gói niêm phong do cơ quan giám định hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A33W màu đen của Nguyễn Văn H và 01 điện thoại di động Nokia X3 màu đen của Nguyễn Thị L sử dụng liên lạc để mua bán ma túy, cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn H, là tiền H bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thị L, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09 tháng 11 năm 2019.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tch thu, tiêu hủy toàn bộ ma túy cùng bao gói hoàn lại sau giám định là A1= 0,0000 gam.

Tch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ thu giữ của Nguyễn Văn H, là tiền bán ma túy mà có.

Tch thu, bán sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A33W màu đen thu giữ của Nguyễn Văn H, 01 điện thoại di động Nokia X3 màu đen thu giữ của Nguyễn Thị L (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HS-ST ngày 16/01/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:05/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phúc Yên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về