Bản án 05/2020/HS-ST ngày 07/02/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 05/2020/HS-ST NGÀY 07/02/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Thạch P, sinh năm 1989, tại Sóc Trăng; Nơi thường trú: Ấp S, xã Đ, huyện X, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Thạch K (đã chết) và bà Thạch Thị S; bị cáo có vợ tên Sơn Thị Bé H và 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2019 đến nay (có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Dương Tấn T (vắng mặt), Võ Thành S (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Thạch P là người nghiện chất ma túy. Vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 03/10/2019, bị cáo Thạch P nói dối và mượn xe mô tô biển số 53PC- 3436 của bạn tên H không rõ nhân thân lai lịch, là người làm chung với bị cáo P tại quán karaoke hiệu N thuộc ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An để đi công việc. Sau đó, bị cáo P điều khiển xe mô tô này đến đoạn đường dưới chân cầu T thuộc ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An mua của người thanh niên không rõ họ tên địa chỉ 05 gói chất ma túy đá với giá 800.000 đồng cất giấu trong người để đem về chỗ làm sử dụng. Khi bị cáo P điều khiển xe mô tô biển số 53PC-3436 về đến vòng xoay khu công nghiệp T – H thuộc ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị lực lượng Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An kiểm tra phát hiện bị cáo P đang cất giấu ma túy trong người nên tiến hành tạm giữ người và vật chứng để điều tra xử lý.

Vật chứng thu giữ quả tang gồm có: 05 gói chất ma túy đá bị cáo P mua để sử dụng; một 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, sim số 0332441287; một xe mô tô biển số 53PC-3436.

Quá trình điều tra xác định: xe mô tô biển số 53PC-3436 có số máy: VDP1P39FMB001124, số khung: VDPWCB013DP001124 không có người đứng tên đăng ký chủ quyền, biển số 53PC-3436 là biển số giả.

Tại kết luận giám định số 519/2019/KLGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An, kết luận: 05 gói chất ma túy đá Thạch P mua về cất giấu để sử dụng bị bắt quả tang có chứa thành phần Methamphetamine, khối lượng là 0,6343 gam (Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An hoàn lại mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,4372 gam được niêm phong).

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSĐH ngày 08 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Thạch P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Thạch P gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Thạch P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Thạch P mức hình phạt từ 02 năm tù đến 03 năm tù; đề nghị áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo P 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về tang vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,4372 gam, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An hoàn lại sau giám định và 01 biển số 53PC-3436 (biển số giả);

- Trả lại cho bị cáo Thạch P một (01) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, sim số 0332441287. - Tịch thu sung công quỹ xe mô tô biển số 53PC-3436 (biển số giả) có số máy: VDP1P39FMB001124, số khung: VDPWCB013DP001124 không có người đứng tên đăng ký chủ quyền.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Thạch P không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị không đề cập, xem xét.

Đối với người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Thạch P tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, do không xác định được nhân thân lai lịch của người này và chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo P, Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét làm rõ xử lý sau nên đề nghị không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo Thạch P hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo Thạch P trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 03 tháng 10 năm 2019, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng với bản kết luận giám định số 519/2019/KLGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Thấy rằng, bị cáo Thạch P là người nghiện ma túy, khoảng 20 giờ 00 ngày 03/10/2019, tại khu vực ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Thạch P bị lực lượng Công an huyện Đức Hòa bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 05 gói chất ma túy đá để sử dụng. Qua điều tra và tại phiên tòa, bị cáo P khai nhận khối lượng ma túy trên bị cáo mua của người không rõ họ tên, địa chỉ tại khu vực dưới chân cầu T thuộc ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An để sử dụng, nhưng chưa sử dụng thì bị bắt giữ. Kết luận giám định 05 gói chất ma túy mà bị cáo P cất giấu có chứa thành phần Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0.6343 gam.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Thạch P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Thạch P với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được H quả nghiêm trọng của ma túy đối với xã hội và bản thân bị cáo. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo P phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang phải nuôi con nhỏ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.

Từ phân tích [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Thạch P là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5]. Về tang vật chứng:

Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Đối với chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,4372 gam, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An hoàn lại sau giám định và 01 biển số 53PC-3436 là biển số giả nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, sim số 0332441287 thu giữ của bị cáo P, không có liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Thạch P. - Đối với xe mô tô biển số 53PC-3436 bị cáo P dùng làm phương tiện mua ma túy, bị cáo khai mượn của người tên H nhưng không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ, qua điều tra xác minh không truy tìm được lai lịch, địa chỉ của H; xe mô tô biển số 53PC-3436 (biển số giả) có số máy: VDP1P39FMB001124, số khung: VDPWCB013DP001124 không có người đứng tên đăng ký chủ quyền nên tịch thu sung công quỹ.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Thạch P không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập, xem xét.

[7]. Đối với người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Thạch P tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, do không xác định được nhân thân lai lịch của người này và chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo P, Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Thạch P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Thạch P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2019.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Thạch P 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/02/2020) để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,4372 gam được niêm phong hoàn lại sau giám định theo kết luận giám định số 519/2019/KLGĐ ngày 10/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An và 01 biển số 53PC-3436 (biển số giả).

- Trả lại cho bị cáo Thạch P 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có chứa sim số 0332441287.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: xe mô tô biển số 53PC-3436 (biển số giả) có số máy: VDP1P39FMB001124, số khung: VDPWCB013DP001124 không có người đứng tên đăng ký chủ quyền. Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 45 – 13/01/2020 ngày 13 tháng 01 năm 2020.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Thạch P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

Án này là sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


4
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HS-ST ngày 07/02/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:05/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/02/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về