Bản án 05/2020/HS-ST ngày 04/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 05/2020/HS-ST NGÀY 04/05/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Hoàng Giang N, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 03 tháng 6 năm 1989 tại thị xã Ng, tỉnh Y. Nơi cư trú: Tổ 1, phường Tr, thị xã Ng, tỉnh Y; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Anh T (đã chết) và bà Vũ Thị L, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 03/10/2018 Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 31/8/2019 chấp hành xong hình phạt về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/12/2019, tạm giam ngày 31/12/2019. Bị cáo hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Yên Bái. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Quang Việt A, Sinh năm 1998. Địa chỉ: Tổ 8, phường Tr, thị xã Ng, tỉnh Y. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Trần Văn Th, sinh năm 1957. Địa chỉ: Tổ 1, phường P, thị xã Ng, Y. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ 30 phút, ngày 30/12/2019 tại khu vực đồi Pú Lo thuộc tổ 1, phường P, thị xã Ng, tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ, bắt quả tang Hoàng Giang N đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Phát hiện và thu giữ dưới đất nơi N đang ngồi 01 gói nilon bên trong có chứa chất nhựa dẻo mầu nâu; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, mầu đen loại có bàn phím; 01 đoạn ống nứa hình trụ chiều dài 35cm, đường kính 03cm, một đầu được bịt bằng túi nilon mầu hồng, cách đầu bịt 08cm có 01 lỗ nhỏ; 01 thanh kim loại có chiều dài 21,5cm một đầu đập tròn, một đầu đập bẹp; 01 chén sứ mầu trắng; 01 đoạn ống dạng hình trụ chiều dài 11,5cm; 01 bật lửa mầu cam; 01 chiếc đèn tự chế; 01 con dao dài 20cm, lưỡi bằng kim loại dài 10cm, chuôi bằng nhựa mầu cam dài 10cm. Ngoài ra còn thu giữ của N 01 xe mô tô hiệu Honda loại Wave mầu cam BKS 21K1 – 21593 cách vị trí N ngồi khoảng 20m.

Quá trình điều tra N khai nhận vào trưa ngày 30/12/2019, N sử dụng xe mô tô BKS 21K1 – 21593 mượn của Lê Quang Việt A trước đó đi đến khu vực thôn S Xxã Ph, huyện Tr để mua ma túy (thuốc phiện) về sử dụng cho bản thân. N gặp và mua của người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói thuốc phiện với giá 150.000đồng. Sau đó N điều khiển xe về khu vực đồi P thuộc tổ 1, phường P lấy bộ dụng cụ sử dụng thuốc phiện mà N đã mua từ trước của một người đàn ông dân tộc Mông và cất dấu trước đó ra để sử dụng ma túy nhưng N chưa kịp sử dụng thì bị công an bắt quả tang.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Nghĩa Lộ đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và đồ vật của N nhưng không thu giữ được gì.

Bản kết luận giám định số 16/GĐMT ngày 06/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Yên Bái đã kết luận: Chất nhựa dẻo mầu nâu thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Giang Nam có khối lượng là 02 gam, là ma túy, loại thuốc phiện.

Cáo trạng số: 07/CT-VKS-NL ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố Hoàng Giang N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Giang N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống nứa hình trụ chiều dài 35cm, đường kính 03cm, một đầu được bịt bằng túi nilon mầu hồng, cách đầu bịt 08cm có 01 lỗ nhỏ; 01 thanh kim loại có chiều dài 21,5cm một đầu đập tròn, một đầu đập bẹp; 01 chén sứ mầu trắng; 01 đoạn ống dạng hình trụ chiều dài 11,5cm; 01 bật lửa mầu cam; 01 chiếc đèn tự chế; 01 con dao dài 20cm, lưỡi bằng kim loại dài 10cm, chuôi bằng nhựa mầu cam dài 10cm.

Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, mầu đen loại có bàn phím đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.

Tại phiên tòa bị cáo N thừa nhận đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đúng như Cáo trạng đã truy tố, không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật và mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị. Lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt vì đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái.

Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử công bố lời khai trong hồ sơ thừa nhận việc bị cáo mượn xe nhưng không biết dùng để mua ma túy, đã được giao trả lại tài sản và không có ý kiến gì về trách nhiệm dân sự. Bị cáo công nhận những lời khai đó là đúng và không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã Nghĩa Lộ, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Giang N khai nhận: N là người nghiện chất ma túy, ngày 30/12/2019 N một mình điều khiển xe mô tô BKS 21K1 – 21593 lên khu vực thôn S, xã Ph, huyện Tr mua của người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy loại thuốc phiện với giá 150.000đồng, đem về khu vực đồi P, phường P để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với những lời khai khác của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và những tài liệu khác trong vụ án. Đã chứng minh được bị cáo đã có hành vi tàng trữ tổng số 02 (Hai) gam ma túy loại thuốc phiện. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách kiểm soát, chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước đồng thời làm gia tăng tội phạm và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo N là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết được việc tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện chất ma túy của bản thân vẫn cố ý thực hiện. Như vậy bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh và Điều luật được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự đúng như bản Cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Ngày 03/10/2018 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 31/8/2019 chấp hành xong hình phạt. Tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới chưa đủ điều kiện được xóa án tích, do vậy lần xét xử này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo rõ ràng về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được xem xét áp dụng cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, đã có 01 tiền án về tội phạm ma túy, đã được giáo dục cải tạo tại trại giam nhưng sau khi trở về hòa nhập cùng cộng đồng, không chịu tu dưỡng rèn luyện và lao động mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy xác định bị cáo N là người có nhân thân xấu.

[4] Với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương ứng với hành vi phạm tội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian cai nghiện, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với những hành vi phạm tội nhất là loại tội phạm về ma túy.

Theo xác minh của cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Nghĩa Lộ thì tại địa phương nơi cư trú, bị cáo N không có tài sản chung và riêng, không có việc làm ổn định. Do vậy nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng và tài sản tạm giữ:

- 02 (Hai) gam ma túy loại thuốc phiện, cơ quan giám định đã lấy toàn bộ làm mẫu giám định, không hoàn lại.

- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, mầu đen loại có bàn phím cứng, máy cũ đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

- 01 đoạn ống nứa hình trụ chiều dài 35cm, đường kính 03cm, một đầu được bịt bằng túi nilon mầu hồng, cách đầu bịt 08cm có 01 lỗ nhỏ; 01 thanh kim loại có chiều dài 21,5cm một đầu đập tròn, một đầu đập bẹp; 01 chén sứ mầu trắng; 01 đoạn ống dạng hình trụ chiều dài 11,5cm; 01 bật lửa mầu cam; 01 chiếc đèn tự chế; 01 con dao dài 20cm, lưỡi bằng kim loại dài 10cm, chuôi bằng nhựa mầu cam dài 10cm là những dụng cụ bị cáo mua để phục vụ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; 01 vỏ phong bì thư đã dùng để niêm phong vật chứng, xét những vật trên là vật đã cũ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave mầu cam BKS 21K1 – 21593 bị cáo sử dụng để làm phương tiện mua ma túy nhưng đó là xe của anh Lê Quang Việt A, anh A không biết được việc bị cáo mượn xe để sử dụng mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh A quản lý và sử dụng. Việc xử lý của cơ quan điều tra là phù hợp với quy định pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Quang Việt A đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô, anh A không có ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Trong vụ án này bị cáo khai mua bộ dụng cụ sử dụng ma túy của người đàn ông dân tộc Mông, mua ma túy của người phụ nữ dân tộc Mông đều tại thôn S, xã Ph, huyện Tr nhưng bị cáo không biết rõ tên, tuổi và địa chỉ của những người này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại khu vực trên nhưng không có người nào có đặc điểm nhận dạng như bị cáo khai nên không đủ cơ sở để điều tra làm rõ trong vụ án.

Đối với Lê Quang Việt A là người cho bị cáo mượn xe mô tô nhưng anh A không biết được việc bị cáo sử dụng xe của mình làm phương tiện đi mua ma túy, vì vậy anh A không phạm tội.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Giang N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Giang N 01(Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 30/12/2019.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn ống nứa hình trụ chiều dài 35cm, đường kính 03cm, một đầu bịt bằng túi nilon mầu hồng; 01 thanh kim loại có chiều dài 21,5cm một đầu đập tròn, một đầu đập bẹp; 01 chén sứ mầu trắng, trên chén có in chữ “gigo” mầu đỏ; 01 đoạn gỗ dạng hình trụ chiều dài 11,5cm; 01 bật lửa mầu cam; 01 chiếc đèn tự chế; 01 con dao dài 20cm, lưỡi bằng kim loại dài 10cm, chuôi bằng nhựa mầu cam dài 10cm; 01 vỏ phong bì thư đã dùng để niêm phong vật chứng.

- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, mầu đen loại có bàn phím cứng, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.

( Theo biên bản giao, nhận vật chứng,tài sản tạm giữ lập ngày 20/3/2020 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái và cơ quan Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái)

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hoàng Giang N phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HS-ST ngày 04/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:05/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:04/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về