Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 28/02/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 05/2020/HNGĐ-ST NGÀY 28/02/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 219/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị T, sinh năm 1970;

Đa chỉ: Thôn H, xã S, huyện L tỉnh Quảng Bình, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1964;

Đa chỉ: Thôn H, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt (lần thứ 2).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị Trương Thị T trong đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2019, bản tự khai ngày 05/11/2019, biên bản hòa giải các ngày 05/11/2019, ngày 18/11/2019 và tại phiên tòa trình bày:

Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn S kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 30/7/1993. Sau kết hôn vợ chồng về chung sống tại nhà bố mẹ anh S thuộc xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình một thời gian, sau đó ra làm nhà ở riêng. Cuộc sống hôn nhân của vợ chồng hạnh phúc được khoảng 26 năm thì đến tháng 4 năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do anh S thường xuyên uống rượu, đánh bạc, gây gỗ, đánh đập chị và con nhiều lần. Chị và chính quyền địa phương đã khuyên ngăn và can thiệp nhiều lần nhưng anh S không thay đổi, vẫn chứng nào tật đó, làm cho tình cảm vợ chồng bị sứt mẻ và mâu thuẩn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Cuộc sống vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Chị T xác định hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn anh S.

Về con chung: Nguyên đơn chị T trình bày: Vợ, chồng có ba con chung là Nguyễn Đức H, sinh ngày 10/3/1994; Nguyễn Đức H, sinh ngày 14/7/1995 và Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 08/11/2006. Hiện tại hai con Nguyễn Đức H và Nguyễn Đức H đã thành niên, nên các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng con chung Nguyễn Thị Thanh Hi đang còn nhỏ, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con vì chị đủ điều kiện, khả năng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ, chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn S tại phiên tòa vắng mặt, nhưng tại bản khai ngày 05/11/2019, biên bản hòa giải các ngày 05/11/2019, 18/11/2019 trình bày: Việc kết hôn, chung sống vợ chồng, anh S cơ bản nhất trí như trình bày của chị T. Riêng về nguyên nhân mâu thuẫn anh không nhất trí như chị T trình bày, vì theo anh vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng, anh không đánh vợ con, vợ chồng chỉ thỉnh thoảng có cải vã nhau. Trong các buổi hòa giải anh Sáu xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, nên không chấp nhận ly hôn theo yêu cầu của chị T mà xin đoàn tụ vợ chồng.

Về con chung: Anh S thừa nhận vợ chồng có ba con chung như chị T trình bày; nguyện vọng nếu ly hôn hai con Nguyễn Đức H và Nguyễn Đức H đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con Nguyễn Thị Thanh H còn nhỏ, trường hợp ly hôn anh S nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con mổi tháng 500.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị T xin ly hôn anh Nguyễn Văn S là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

[2] Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn S có mặt, nhưng tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được pháp luật quy định. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[3] Về hôn nhân: Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì chị T và anh S kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 30/7/1993, nên hôn nhân của chị T và anh S là hợp pháp.

[4] Về mâu thuẩn: Theo trình bày của nguyên đơn chị T trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thì cuộc sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn theo trình bày của chị T, do anh S thường xuyên uống rượu, đánh bạc, gây gỗ, đánh đập vợ, con. Tại phiên tòa chị T trình bày, nhiều lần bị chồng đánh đập, chị có nhờ đến sự can thiệp, giáo dục của chính quyền địa phương, nhưng không có kết quả. Việc bạo hành của chồng đối với chị diến ra thường xuyên, nhưng thời điểm đó do con con nhỏ nên chị cam chịu để nuôi dạy con cái. Quá trình hòa giải anh S không xác nhận nguyên nhân mâu thuẩn như chị T trình bày, anh S cho rằng vợ chồng không có mâu thuẩn gì, chỉ thỉnh thoảng cải vã nhau. Tại phiên tòa, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu ly hôn anh S; anh S xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không chấp nhận ly hôn mà có nguyện vọng đoàn tụ vợ chồng.

[5] Qua xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh S là đúng thực tế như chị T trình bày, mâu thuẩn xảy ra thời gian dài không thể hàn gắn được, nguyên nhân do anh S thường xuyên uống rượu, đánh bạc, gây gỗ, đánh đập vợ, con (việc bạo hành này ngoài việc trình bày của chị T còn có xác nhận thêm của cháu H là con chung của vợ chồng có mặt tại phiên tòa). Điều đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng tuy còn sống chung nhưng không quan tâm đến nhau, cuộc sống hôn nhân lâm vào bế tắc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị T, xử cho chị T ly hôn anh S là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[6] Về con chung: Chị T và anh S có ba con chung là Nguyễn Đức H, sinh ngày 10/3/1994, Nguyễn Đức H, sinh ngày 14/7/1995 và Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 08/11/2006. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa cả chị T và anh S đều trình bày hai con Nguyễn Đức H và Nguyễn Đức H đã thành niên, đã đi làm, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung Nguyễn Thị Thanh H cả chị T và anh S đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với con chung Nguyễn Thị Thanh H, từ khi chị T, anh S mâu thuẩn đều do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu H cũng có nguyện vọng được sinh sống cùng chị T nếu cha mẹ ly hôn nhau, vì cháu là con gái, sống với mẹ sẽ thuận lợi hơn trong sinh hoạt và học tập. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Thanh H là phù hợp về điều kiện sống, học tập và phát triển của con chung; anh S không cấp dưỡng nuôi con vì chị T có đủ điều kiện, khả năng nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng; sau này vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[7] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự giải quyết, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Nguyên đơn chị Trương Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị T.

1. Xử cho chị Trương Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn S.

2. Giao con chung Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 08/11/2006 cho chị Trương Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Nguyên đơn chị Trương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai số AA/2017/0005881 ngày 11/10/2019 (Chị Trương Thị T đã nộp đủ án phí). Bị đơn anh Nguyễn Văn S không phải chịu án phí.

Nguyên đơn chị Trương Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/02/2020); bị đơn anh Nguyễn Văn S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 28/02/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:05/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lệ Thủy - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về