Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 23/06/2020 về kiện xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 05/2020/HNGĐ-ST NGÀY 23/06/2020 VỀ KIỆN XIN LY HÔN

Ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2019/TLST - HNGĐ, ngày 08 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Út Ng, sinh năm 1986 (Có mặt) Địa chỉ: Thôn Tri L, xã Quang Tr, huyện Phú X, Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Mai Văn C, sinh năm 1988 (Vắng mặt) Địa chỉ: Xóm Yên Th 4, xã Yên L, huyện Phú L, Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn là chị Phạm Thị Út Ng trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Tôi kết hôn với anh Mai Văn C năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Quang Tr, huyện Phú X, thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn chúng tôi được tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không bị ai lừa dối, cưỡng ép. Sau khi kết hôn, chúng tôi về chung sống với nhau ở xóm Yên Th 4, xã Yên L, huyện Phú L một thời gian rồi về Hà Nội cùng làm ăn. Tháng 01/2016 giữa chúng tôi bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn do anh Công vướng vào lô đề, cờ bạc, bỏ bê công việc, không quan tâm đến vợ con, gia đình. Tháng 3/2016 chúng tôi sống ly thân với nhau. Sau nhiều lần tái hợp, tôi nhận thấy giữa hai vợ chồng tôi có quá nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Đến nay tôi xác định đã hết tình cảm với anh C, không thể kéo dài cuộc sống chung với anh C được nữa nên có nguyện vọng được ly hôn với anh C.

- Về con chung: Vợ chồng tôi có 01 con chung là Mai Khánh Ch, sinh ngày 30/7/2015, hiện đang ở với tôi. Tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và niêm yết hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với anh C nhưng anh C không có mặt tại Tòa án để làm việc, do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được. Qua xác minh tại gia đình anh C và chính quyền địa phương xác định, anh C vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm Yên Th 4, xã Yên L, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên, anh C đi làm ăn xa, không khai báo tạm vắng, gia đình anh C cho biết anh C vẫn liên lạc qua điện thoại và thỉnh thoảng về nhà nhưng không nói rõ địa chỉ nơi ở, anh C không đi xuất khẩu lao động.

Do có sự vắng mặt nên không thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung của vụ án do đó Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai. Tại phiên tòa, chị Phạm Thị Út Ng vẫn giữ nguyên quan điểm của mình như trên.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về trình tự, thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu xin ly hôn của chị Ng, chị Ng được ly hôn anh C; về con chung: Giao cháu Mai Khánh Ch cho chị Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với anh C do chị Nguyệt không yêu cầu; tài sản chung, nợ chung: không có, không xem xét giải quyết; chị Ng phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền : Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình về việc yêu cầu xin ly hôn giữa nguyên đơn là chị Phạm Thị Út Ng và anh Mai Văn C (HKTT: xóm Yên Th 4, xã Yên L, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên). Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ, niêm yết công khai thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa đối với anh Mai Văn C nhưng anh C vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án đã có biên bản xác minh tại gia đình anh Mai Văn C, ông Mai Văn H (bố đẻ của anh C) và bà Đỗ Thị Ph (mẹ đẻ của anh C) đều xác định: Anh C đi làm ăn xa thỉnh thoảng vẫn đi về nhà nhưng không nói rõ là đi làm gì, ở đâu. Căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt anh Mai Văn C.

[3] Quan hệ hôn nhân: chị Ng và anh C kết hôn với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Quang Tr, huyện Phú X, thành phố Hà Nội vào năm 2015, như vậy hôn nhân giữa chị Ng và anh C là hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do không không hợp nhau về tính cách và do điều kiện kinh tế gia đình, hai anh chị bắt đầu sống ly thân với nhau , quan hệ vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên hòa giải để hướng các đương sự về đoàn tụ với nhau nhưng anh C vắng mặt, chị Ng vẫn kiên quyết muốn ly hôn với anh C. Qua xác minh ông H và bà Ph (bố mẹ đẻ của anh C) xác định đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh C và chị Ng vẫn không thể đoàn tụ với nhau. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng anh C, chị Ng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của chị Ng là có căn cứ, cần chấp nhận yêu cầu của chị Ng, giải quyết cho chị Ng được ly hôn với anh C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Con chung: Hai anh chị có 01 con chung là Mai Khánh Ch, sinh ngày 30/7/2015, chị Ng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Xét thấy chị Ng đã chăm sóc, nuôi dưỡng con chung từ khi cháu còn nhỏ, chị Ng có công việc, có thu nhập, đảm bảo các điều kiện về vật chất, tinh thần cho sự phát triển của con chung. Việc giao con cho anh C sẽ gây xáo trộn cuộc sống của cháu, nên cần giao cho chị Ng nuôi dưỡng sẽ đảm bảo quyền lợi của cháu. Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung cho anh C do chị Ng không yêu cầu.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không có tài sản chung, nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: chị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[8] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên là phù hợp, có căn cứ để chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; 227, 228, 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Út Ng được ly hôn anh Mai Văn C.

2. Về con chung: Giao con chung Mai Khánh Ch, sinh ngày 30/7/2015 cho chị Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với anh Mai Văn C. Anh C được quyền đi lại thăm con chung.

3. Án phí: chị Phạm Thị Út Ng phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018958 ngày 08/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


4
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 23/06/2020 về kiện xin ly hôn

Số hiệu:05/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Lương - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:23/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về