Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 21/05/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 05/2020/HNGĐ-ST NGÀY 21/05/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Trong ngày 21 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXX-DS ngày 05 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Mỹ H, sinh năm 1996 (có mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện TH, Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Lý Văn P, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện TH, Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 01/12/2019 nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Mỹ H và ông Lý Văn P cưới nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân tính cách hai người không hòa hợp nhau, thường xuyên xảy ra cải vã, từ tháng 9/2019 bà và ông P đã không còn chung sống với nhau. Bà yêu cầu được ly hôn. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có một người con chung tên Lý Thị N sinh ngày 21/5/2018, con đang do bà H nuôi dưỡng. Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có.

Bị đơn ông Lý Văn P không có văn bản cung cấp lời khai:

Đại diện Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày: Từ khi thụ lý đến kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn và được nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng Toà án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo mở phiên họp công khai tài liệu chứng cứ và hoà giải, triệu tập tham gia phiên toà đối với bị đơn ông Lý Văn P nhưng ông Lý Văn P đều vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Lý Văn P.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Mỹ H và ông Lý Văn P tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng qua lời trình bày của nguyên đơn cũng như qua kết quả xác minh cho thấy trong quá trình chung sống bà H và ông P thực tế có phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng không còn chung sống với nhau. Từ khi bà H yêu cầu ly hôn cho đến nay ông P không đến để hòa giải, cũng không có văn bản phản đối việc ly hôn. Như vậy cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đến nay vẫn không giải quyết được, nếu tiếp tục kéo dài là không thể mang lại hạnh phúc, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận cho bà H được ly hôn là phù hợp theo quy định pháp luật.

[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà H và ông P có một người con chung, tuy nhiên con còn nhỏ và đang do bà H nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cho bà H được quyền nuôi con. Theo quy định pháp luật hôn nhân và gia đình, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên do bà H không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không buộc ông P có nghĩa vụ cấp dưỡng.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nợ chung, về tài sản sản chung không có ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Bà Thạch Thị Mỹ H là người khởi kiện nên phải chịu án phí hôn nhân là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Thạch Thị Mỹ H được ly hôn với ông Lý Văn P.

Về con chung: Giao cháu Lý Thị N, sinh ngày 21/5/2018 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Lý Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở ông thực hiện quyền này.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn bà Thạch Thị Mỹ H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu số 0009896 ngày 02/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, bà H đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 21/05/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:05/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thạnh Trị - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về