Bản án 05/2019/HSPT ngày 23/01/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 05/2019/HSPT NGÀY 23/01/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 23/01/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2019/TLPT-HS ngày 03 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Phạm Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 75/2018/HSST ngày 14/11/2018 của TAND thị xã Chí Linh, Hải Dương.

* Bị cáo kháng cáo: Phạm Văn T, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1958 tại thị xã CL, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn ĐT, xã CT, thị xã CL, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 02/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị X; có vợ là Dương Thị T và 02 con, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1985; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, (có mặt).

* Người bị hại: Bà Trần Thị N, sinh năm 1969 (đã chết).

Nhng người đại diện theo pháp luật của người bị hại:

- Ông Trần Văn V, sinh năm 1968 (chồng bà N)

Nơi cư trú: Thôn ĐT, xã CT, thị xã CL, tỉnh Hải Dương.

- Chị Trần Thị M, sinh năm 1990 (con bà N)

Nơi cư trú: Xã TN, huyện TN, tỉnh Phú Thọ.

- Anh Trần Minh V, sinh năm 1992 (con bà N)

Nơi cư trú: Thôn ĐT, xã CT, thị xã CL, tỉnh Hải Dương.

Ngưi đại diện theo ủy quyền ca chị Trần Thị M và anh Trần Minh V: Ông Trần Văn V, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 12 giờ ngày 23/4/2018, Phạm Văn T có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 25/6/2006 (không có thời hạn) điều khiển xe môtô biển kiểm soát 34C1-097.80 nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave RSX, màu sơn đỏ - đen - xám - trắng bạc (xe thuộc sở hữu của anh Trần Minh V) chở bà Trần Thị N là cháu gọi T bằng cậu từ nhà ở thôn ĐT, xã CT, thị xã CL ra khu vực điểm chờ xe buýt ở Km30 + 200 Quốc lộ 18 thuộc khu dân cư số 2, phường PL, thị xã CL để bắt xe khách đi Hà Nội. Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, T điều khiển xe đi bên trái đường trên Quốc lộ 18 hướng SĐ - BN, khi đến Km 30 + 200 Quốc lộ 18 thuộc khu dân cư số 2, phường PL, thị xã CL. Đoạn đường này được trải bê tông nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 17,40 m, ở giữa các phần đường có các kẻ sơn màu vàng, màu trắng để chia rõ các phần đường, làn đường cho xe chạy; một chiều hướng SĐ - Bắc Ninh; một chiều hướng ngược lại. Lúc này T điều khiển xe chuyển hướng nhanh sang phía đường bên phải theo hướng SĐ – Bắc Ninh để sang điểm dừng xe buýt bên kia đường thì xảy ra va chạm giữa phần đầu xe ôtô khách biển kiểm soát 14B-002.03, loại xe 47 chỗ ngồi, nhãn hiệu DAEWOO, màu sơn trắng xanh do anh Lại Ngọc T điều khiển theo hướng SĐ - Bắc Ninh đi đúng phần đường. T, bà N và xe môtô bị ngã văng ra gần lề đường phía bên phải hướng SĐ - Bắc Ninh. Sau đó T và bà N được đưa đi cấp cứu, đến 19 giờ cùng ngày thì bà N chết.

Tại Kết luận giám định pháp y số 186/KLGĐ ngày 27/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận nguyên nhân chết của bà Trần Thị N là do chấn thương sọ não (vỡ xương vòm sọ).

Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2018/HSST ngày 14/11/2018, Tòa án nhân dân (TAND) thị xã Chí Linh áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 18 tháng tù. Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/11/2018, bị cáo Phạm Văn T kháng cáo đề nghị được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo T giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị HĐXX giảm nhẹ TNHH cho bị cáo được cải tạo tại địa phương vì bị cáo tuổi đã cao và bồi thường cho gia đình bị hại.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh tham gia phiên tòa sau khi phân tích các tình tiết trong vụ án, xác định cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy, tại giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đại diện hợp pháp của người bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo. Căn cứ tính chất hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Bị cáo Phạm Văn T kháng cáo trong thời hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Phạm Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Về tội danh bị cáo không kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền15.000.000đ, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy quan hệ giữa bị cáo và người bị hại là họ hàng, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Nên bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Do đó HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

[3]. Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 75/2018/HSST, ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, Hải Dương.

2. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

3. Tuyên xử:

- Xử phạt: bị cáo Phạm Văn T 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo về tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 23/01/2019).

Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã CT, thị xã CL, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Về Án phí: Bị cáo Phạm Văn T không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

Án xử phúc thẩm công khai. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/01/2019./.


44
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về