Bản án 05/2019/HNGĐ-ST ngày 17/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 05/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 17 tháng 09 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2019/TLST-HNGĐ ngày 02-7-2019 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2019 và Thông báo mở lại phiên tòa số 04/2019/TB-TA ngày 05/9/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:Chị Nguyễn Thị P, sinh năm: 1992; địa chỉ: Tổ dân phố x, phường S, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Phan Tiến T; sinh năm: 1992; địa chỉ: Tổ dân phố x, phường S, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày: Chị và anh Phan Tiến T kết hôn với nhau vào ngày 12/9/2012 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã được hai bên gia đình và UBND xã K, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau được 03 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không quan tâm lo lắng cho vợ con, chơi bời lêu lổng và thường xuyên gây gỗ trong gia đình, bắt đầu từ tháng 9/2017 vợ chồng sống ly thân không quan tâm nhau cho đến nay. Hiện chị P xác định không còn tình cảm với anh T nữa nên yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn anh Phan Tiến T. Về con chung, quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Phan Nguyễn An N – sinh ngày: 26-11-2014, hiện anh T đang nuôi dưỡng, tuy chị P có nguyện vọng khi ly hôn mong muốn được quyền nuôi dưỡng con chung, nhưng do cháu từ trước tới nay sống chung với anh T nên chị P đồng ý nhường quyền nuôi con cho anh T và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng cùng anh T mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con chung Phan Nguyễn An N đủ tròn 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phan Tiến T trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử hôm nay đều không hợp tác, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Tòa án đã tiến hành rất nhiều biện pháp để đề nghị anh T phối hợp nhằm đảm bảo quyền và lợi ịch hợp pháp tuy nhiên không có kết quả. Anh T thường xuyên trốn tránh vì vậy Tòa án không tiền hành làm việc để lấy lời khai cũng như hòa giải giữa vợ chồng.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa hai lần, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tung nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Về tình cảm: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Phan Tiến T. Về con chung: Đề nghị căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Phan Nguyễn An N cho anh Phan Tiến T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Pvề việc cấp dưỡng tiền nuôi conchung hàng tháng cùng anh Phan Tiến T.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét. Về án phí: Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Anh Phan Tiến T được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Bị đơn anh Phan Tiến Tvắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Phan Tiến T kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kỳ Tân, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Chị P cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do anh T không quan tâm lo lắng cho vợ con, chơi bời lêu lổng sau đó về gây sự trong gia đình. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án anh T không hợp tác, không có mặt theo giấy triệu tập cũng như các lần hòa giải của Tòa án. Qua xác nhận của Tổ dân phố nơi anh T và chị P cư trú và Ủy ban nhân dân phường S thì chị P, anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng anh T, chị P đã sống ly thân từ ngày 09/9/2017 mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Phan Tiến T.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phan Nguyễn An N sinh ngày 26/11/2014. Chị P tuy có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Tcấp dưỡng nuôi con chung nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị P đồng ý nhường quyền nuôi con cho anh T, xét thấy cháu Phan Nguyễn An N từ trước đến nay đang sống với bố cuộc sống sinh hoạt và học tập đã ổn định không nên gây xáo trộn làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý của cháu. Hơn nữa anh T hiện cũng có việc làm và thu nhập tạm ổn định, đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Phan Nguyễn An N cho anh Phan Tiến T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị P cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh T mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thi P là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình và là người cấp dưỡng nuôi con chng nên phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và theo điểm a Khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 2 Điều 81; Điều 83, 107, 110, 116, 117, 118 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Phan Tiến T.

2. Về con chung: Giao cháu Phan Nguyễn An N, sinh ngày: 26-11-2014 cho anh Phan Tiến T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Nhiên đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị P đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Phan Tiến T mỗi tháng 1.000.000đ(một triệu đồng) thời gian đóng góp kể từ tháng 10/2019 cho đến khi cháu Phan Nguyễn An N đủ tròn 18 tuổi.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng. Nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0007035 ngày 01 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án thị xã Kỳ Anh, tiền án phí chị P đã nộp hiện còn thiếu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn anh Phan Tiến Tcó quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2019/HNGĐ-ST ngày 17/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:05/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Kỳ Anh - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 17/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về