Bản án 05/2019/DS-ST ngày 11/07/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q, TỈNH Q

BẢN ÁN 05/2019/DS-ST NGÀY 11/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 11 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Q, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2019/TLST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2019, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2019/QĐST-DS ngày 12/6/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L; địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, 109 Trần Hưng Đạo, HK,H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Bùi Công H – Phó giám đốc Trung tâm Giám sát kinh doanh Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L – Chi nhánh Q là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số: 36/2019/QĐ-LPB.QTR ngày 14/01/2019). Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Đào Bá T, sinh ngày 29/10/1955; địa chỉ: Khu phố 4, phường 2, thị xã Q, tỉnh Q. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/01/2019, bản trình bày ý kiến ngày 12/6/2019, bản trình bày ý kiến ngày 11/7/2019 và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 08/9/2017, Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L – Chi nhánh Q đã ký Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172337 với ông Đào Bá T, số tiền cấp tín dụng là 50.000.000 đồng. Thời hạn vay 36 tháng, lãi suất cho vay trong hạn 9%/năm, lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ lãi chậm trả bằng 10%/năm. Phương thức trả nợ: trả gốc và lãi theo dư nợ gốc ban đầu. Số tiền gốc và lãi trả định kỳ vào ngày 25 của mỗi tháng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 25/8/2018 ông Đào Bá T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ (vi phạm về mặt thời gian trả) nên khoản vay của ông Đào Bá T đã bị chuyển nợ quá hạn vào ngày 04/9/2018. Kể từ khi khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn, Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để ông Đào Bá T thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngày 24/12/2018 ông Đào Bá T có trả 1.390.000 đồng tiền gốc và lãi là 447.682 đồng. Dư nợ gốc đến ngày 24/12/2018 là 33.320.000 đồng. Kể từ đó đến nay ông Đào Bá T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nữa.

Tính đến ngày 11/7/2019 ông Đào Bá T còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L số tiền 37.605.371 đồng, trong đó số tiền dư nợ gốc là 33.320.000 đồng, nợ lãi trong hạn 3.552.318 đồng, nợ lãi quá hạn 733.053 đồng.

Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Đào Bá T phải thanh toán toàn bộ số tiền là: 37.605.371 đồng và đề nghị Tòa án buộc ông Đào Bá T phải phải chịu lãi suất quá hạn theo Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172337 ký ngày 08/9/2017 với Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L cho đến khi thanh toán xong khoản vay.

Ông Đào Bá T trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa hôm nay đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L đề ngày 14/01/2019, Tòa án nhân dân thị xã Q xác định về quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hợp đồng được giao kết và thực hiện thông qua Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L và bị đơn cư trú tại khu phố 4, phường 2, thị xã Q. Do đó, theo quy định của điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Q thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn thường xuyên vắng mặt nơi cư trú, nên Tòa án đã không tống đạt được trực tiếp cho bị đơn, Tòa án đã làm thủ tục niêm yết theo quy định pháp luật, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172337 ký ngày 08/9/2017 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L và ông Đào Bá T là hợp pháp, vì thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định giao dịch dân sự nói chung cũng như các điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng tín dụng theo quy định của Luật tổ chức tín dụng nên có giá trị bắt buộc với các bên tham gia giao dịch.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về khoản nợ gốc: Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172337 ký ngày 08/9/2017 thì bị đơn phải trả số tiền gốc và tiền lãi định kỳ vào ngày 25 mỗi tháng. Đến ngày 25/8/2018 ông Đào Bá T đã vi phạm về mặt thời gian trả nợ nên khoản nợ bị chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 04/9/2018; lần cuối ông Đào Bá T trả nợ cho ngân hàng là ngày 24/12/2018. Tổng số tiền gốc đã trả là 16.680.000 đồng. Dư nợ gốc còn lại là 33.320.000 đồng thuộc trường hợp quá hạn thanh toán. Do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L về việc đòi nợ gốc là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận. (Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự) Về khoản nợ lãi: Tại Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172337 ký ngày 08/9/2017 thì thỏa thuận lãi suất cho vay 9%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, trả lãi chậm bên vay còn phải thanh toán tiền phạt lãi theo thảo thuận trong hợp đồng. Lãi trả định kỳ vào ngày 25 của mỗi tháng theo dư nợ gốc ban đầu. Đến ngày 24/12/2018 phía bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền lãi là 4.835.182 đồng; do bị đơn không trả nợ đến hạn, nguyên đơn đã chuyển nợ gốc và nợ lãi sang nợ quá hạn từ ngày 04/9/2018. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 11/7/2019, tổng số tiền còn nợ lãi của bị đơn là: 4.285.371 đồng, trong đó: nợ lãi trong hạn 3.552.318 đồng, nợ lãi quá hạn 733.053 đồng. Xét hợp đồng tín dụng được xác lập và thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, phù hợp quy định tại Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tính tiền lãi từ ngày 26/9/2018 đến ngày 11/7/2019 (ngày xét xử sơ thẩm) là 4.285.371 đồng là có cơ sở.

Như vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền gốc 33.320.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử ( 11/7/2019) là 4.285.371 đồng.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 117, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án Lệ số 08/2016 được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L.

Buộc ông Đào Bá T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L số tiền 37.605.371 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm linh năm ngàn ba trăm bảy mươi mốt đồng). Trong đó nợ gốc 33.320.000 đồng (Ba mươi ba triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng), tiền lãi tính đến ngày 11/7/2019 là 4.285.371 đồng (Bốn triệu hai trăm tám mươi lăm ngàn ba trăm bảy mươi mốt đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Đào Bá T còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HĐTD46020172337 ký ngày 08/9/2017 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

2.Về án phí: Ông Đào Bá T phải chịu 1.880.268 đồng (Một triệu tám trăm tám mươi ngàn hai trăm sáu mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 867.000 đồng (Tám trăm sáu mươi bảy ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000573 ngày 22/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Q.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2019/DS-ST ngày 11/07/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:05/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Quảng Trị - Quảng Trị
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 11/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về