Bản án 05/2018/HNGĐ-ST ngày 25/01/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 05/2018/HNGĐ-ST NGÀY 25/01/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 25 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 633/2017/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2017 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2017/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2018/QĐST-HPT ngày 09 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Vân H, sinh năm 1978, Đăng ký hộ khẩu: số 15 ngõ 24 phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: số phòng 206 D1 khu tập thể N, phường D, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Anh S, sinh năm 1972, Đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú:

số 15 ngõ 24 phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. (số mới 2 ngách 22 ngõ 162 phố Đ) (anh S vắng mặt lần hai liên tiếp).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Nguyễn Thị Vân H và anh Nguyễn Anh S có đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 9 năm 2005 tại UBND phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại số 15 ngõ 24 phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Khi xảy ra mâu thuẫn hai bên gia đình nội ngoại đã biết mâu thuẫn của vợ chồng và đã giảng hòa nhưng không có kết quả. Khi mâu thuẫn căng thẳng vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay.

Nay chị H không còn tình cảm với anh S nên đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 24 tháng 4 năm 2006. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi con chung và yêu cầu anh S đóng góp 3.000.000 đồng/tháng để nuôi cháu Tiến. Tại phiên tòa chị H đề nghị được tạm hoãn yêu cầu anh S thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi chị có yêu cầu.

Về tài sản chung và nhà ở: Chị H tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị tự lo về nhà ở.

Về khoản nợ: Chị H xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau. Vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ.

Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập ghi lời khai và tham gia phiên hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn vẫn vắng mặt, do đó Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn và không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ hai liên tiếp không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 175; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220; điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo qui định tại Điều 63; điểm b khoản 2 Điều 227 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn qui định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 42; Điều 58; 63; 70 và Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh S. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được cho anh chị, vì vậy Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

 [2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh S là quan hệ hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn vào 22 tháng 9 năm 2005 tại UBND phường Đ. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn của vợ chồng xảy ra thì gia đình hai bên có biết có khuyên giải cho vợ chồng nhưng không có kết quả và kể từ năm 2016 đến nay anh chị đã sống ly thân. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.

 [3] Tòa án cũng tiến hành ghi ý kiến đại diện gia đình chị H là anh Nguyễn Duy Điệp: Chị H và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống tại số 2, ngách 22, ngõ 162 phố Đ. Quá trình vợ chồng chung sống gia đình nhận thấy anh chị có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Khi mâu thuẫn căng thẳng chị H đã dọn đến nhà anh Điệp sinh sống từ 15 tháng 10 năm 2017 đến nay. Gia đình nhận thấy chị H không còn tình cảm với anh S. Khi mâu thuẫn của vợ chồng xảy ra gia đình tôi có biết có khuyên giải anh chị nhưng không có kết quả. Nay chị H có yêu cầu xin ly hôn với anh S nên đề nghị Tòa án giải quyết để hai anh chị được ly hôn. Anh chị có một con chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 24 tháng 4 năm 2006. Khi ly hôn gia đình đề nghị tòa án giao cháu Tiến để chị H trực tiếp nuôi dưỡng, gia đình chúng tôi đồng ý và sẽ tạo mọi điều kiện để giúp đỡ chị H nuôi con. Về tài sản chung và nhà ở: gia đình chúng tôi để cho H và Sơn tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Gia đình chúng tôi xác nhận không vay nợ H và Sơn và hai anh chị cũng không vay nợ gì gia đình chúng tôi.

 [4] Tòa án cũng tiến hành ghi ý kiến đại diện tổ dân phố nơi chị H và anh S sinh sống: Vợ chồng anh S và chị H có đăng ký kết hôn ngày 22/9/2005 tại UBND phường Đ. Thời gian gần đây chị H và cháu Nguyễn Anh T không còn sinh sống tại số 2 ngách 22 ngõ 162 phố Đ. Mâu thuẫn gia đình của anh chị tổ dân phố không nắm bắt được. Anh chị vay nợ ai hay cho ai vay nợ tổ dân phố không nắm bắt được. Anh chị không có tranh chấp về tài sản nhà ở.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Tòa án cũng đã nhiều lần tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh S đều vắng mặt không lý do, anh S không đến phiên tòa và không nhận các quyết định của Tòa án thể hiện anh từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Anh chị cũng đã sống ly thân từ năm 2016 thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xử cho chị H được ly hôn anh S là phù hợp.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 24 tháng 4 năm 2006. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi con chung và tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp nuôi con chung đối với anh S. Trong quá trình giải quyết vụ án anh S không đến Tòa nên tòa án không ghi được ý kiến của anh về việc nuôi con chung và tại bản tự khai của cháu Tiến cũng có nguyện vọng được ở với chị H. Xét thấy việc giao cháu Tiến cho chị H trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định của pháp luật, cũng phù hợp với nguyện vọng theo bản tự khai của cháu Tiến.

Về tài sản chung và nhà ở: Chị H tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị tự lo chỗ ở, không có khiếu kiện hay thắc mắc gì.

Về khoản nợ: Chị H xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau. Vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm;

Chị H và anh S có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39: Điều 70; Khoản 4 Điều 147; các Điều 203; Điểm b Khoản 2 Điều 227; 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của Chị Nguyễn Thị Vân H;

Chị Nguyễn Thị Vân H được ly hôn với Anh Nguyễn Anh S.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 24 tháng 4 năm 2006 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh S cho đến khi chị H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật.

Anh S có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nhà ở: Chị H tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị tự lo về nhà ở.

Về khoản nợ: Chị H xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau. Vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Vân H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 7796 ngày 06 tháng 11 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, Chị Nguyễn Thị Vân H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25 tháng 01 năm 2018. Anh Nguyễn Anh S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường nơi anh Nguyễn Anh S cư trú.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

113
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2018/HNGĐ-ST ngày 25/01/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:05/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ba Đình - Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về