Bản án 04/2021/HS-ST ngày 19/01/2021 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 04/2021/HS-ST NGÀY 19/01/2021 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 19 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 01 năm 2021 đối với các bị cáo:

1/ Bị cáo thứ nhất: Nguyễn Tấn Đ (tên gọi khác: B), sinh năm 1991 tại huyện A, Bình Định; nơi cư trú: Số nhà 01/01, đường Đ, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ thêu; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tấn B, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1963; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2020 đến ngày 23/10/2020 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

2/ Bị cáo thứ hai: Bùi Văn S, sinh năm 1977 tại huyện A, Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn:

10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn T, sinh năm 1956 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1970; có vợ Phan Thị K Nga, sinh năm 1977, con có 02 người, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 21/12/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Đánh bạc” tại Bản án số 21/2012/HSST. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

3/ Bị cáo thứ ba: Ngô Gia T, sinh năm 1995 tại huyện A, Bình Định; nơi cư trú: Thôn Th, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Tiên T (chết) và bà Lê Thị Q, sinh năm 1954; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 24/7/2020 đến ngày 01/8/2020 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

4/ Bị cáo thứ tư: Nguyễn Đức Tr, sinh năm 1998 tại huyện A, Bình Định; nơi cư trú: Thôn Th, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 và bà Hồ Thị Thanh Ng, sinh năm 1968; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 24/7/2020 đến ngày 01/8/2020 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

5/ Bị cáo thứ năm: Trần Thanh Nh, sinh năm 1980 tại huyện P, Bình Định; nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: nông; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Ngọc Q (chết) và bà Lương Thị Nh, sinh năm 1954; có vợ Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1984, con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 24/7/2020 đến ngày 01/8/2020 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

6/ Bị cáo thứ sáu: Bùi Văn T2 (tên gọi khác: Q), sinh năm 1984 tại huyện A, Bình Định; nơi cư trú: Số nhà 95/24, đường H, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Trung Th (chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1948; có vợ Võ Trúc H, sinh năm 1992, con có 02 người, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

7/ Bị cáo thứ bảy: Huỳnh Thanh H, sinh năm 1977 tại huyện A, Bình Định; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Trọng T, sinh năm 1952 và bà Phan Thị Th, sinh năm 1954; có vợ Lê Thị Tuyết Tr, sinh năm 1991, con có 02 người, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

8/ Bị cáo thứ tám: Trần Ngọc Th (tên gọi khác: T), sinh năm 1993 tại huyện A, Bình Định; nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Ngọc Đ, sinh năm 1968 và bà Phạm Thị Ph, sinh năm 1972; có vợ Nguyễn Thị Thanh S, sinh năm 1996 (đã ly hôn), con có 01 người sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

9/ Bị cáo thứ chín: Nguyễn Đình Th (tên gọi khác: L), sinh năm 1991 tại huyện A, Bình Định; nơi cư trú: Số nhà 70/19, đường H, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức T, sinh năm 1949 và bà Hà Thị Th, sinh năm 1955; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Quốc H, sinh năm 1988;

nơi cư trú: Số 288, đường N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 09 giờ ngày 24/7/2020, Nguyễn Tấn Đ, Trần Ngọc Th, Nguyễn Đình Th1 và đối tượng tên Danh (không rõ lai lịch) uống cà phê tại “Quán 79” ở khu vực Bằng Châu, phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Tại đây, Đ nói sẽ tổ chức đánh bạc dưới hình thức xốc bầu cua thắng thua được tiền và rủ Th, Th1, Danh cảnh giới giúp sức cho Đ trong quá trình đánh bạc và sẽ trả tiền công cho mỗi người 200.000 đồng sau khi đánh bạc xong (do trước đó ngày 23/7/2020 Th, Th1, Danh cũng đã giúp sức cho Đ đánh bạc thành công), nên cả nhóm đồng ý. Đ đưa số điện thoại của một số con bạc cho Th để cùng với Đ gọi các con bạc đến chiếu bạc để tham gia đánh bạc. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Đ cùng với Th, Th1, Danh đến bãi đất trống thuộc khu vực Châu Thành, phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định quét dọn, chuẩn bị địa điểm để đánh bạc. Sau đó, Đ phân công Th là người có nhiệm vụ cảnh giới, hướng dẫn các con bạc vào chiếu bạc, trong coi xe của các con bạc tại quán nước mía, cách chiếu bạc khoảng 20m, đồng thời khi các con bạc cần nước uống, thuốc lá thì Đ sẽ gọi Th mua đem vào; Th1 có nhiệm vụ cảnh giới tại chiếu bạc và nhận nước uống, thuốc lá từ Th đem vào cho các con bạc. Danh có nhiệm vụ cảnh giới bên ngoài chiếu bạc cách chiếu bạc khoảng 50m. Sau đó, lần lượt các con bạc: Ngô Gia T, Nguyễn Đức Tr, Trần Thanh Nh, Bùi Văn S, Bùi Văn T2, Huỳnh Thanh H và một số đối tượng khác đến tham gia đánh bạc dưới hình thức xốc bầu cua thắng thua được tiền. Về cách thức đánh bạc như sau: Đ là người cầm cái xốc bầu cua; T, Tr, Nh, S, T2, H là những người đặt cược bằng tiền. Đ sử dụng bộ thau nhôm đậy nắp kín bên trong có 03 hột xốp hình lập phương, trên mặt xốp có in hình các biểu tượng bầu, cua, tôm, cá, gà, nai và 01 tờ giấy bằng nhựa (thường gọi là bàn) in hình các biểu tượng tương ứng. Đ cầm bộ thau nhôm xóc cho 03 hột xốp bên trong đảo lộn xong đặt thau xuống, các con bạc sẽ tham gia đặt cược tiền vào các biểu tượng bầu, cua, tôm, cá, gà, nai in trên mặt giấy. Khi các con bạc đã cược tiền xong, Đ mở nắp thau nhôm ra để dò kết quả; nếu mặt trên cùng của hột xốp có biểu tượng giống như biểu tượng mà các con bạc đã đặt cược thì Đ sẽ chung tiền cho các con bạc (nếu có 02 hoặc 03 biểu tượng hột xốp giống nhau thì Đ sẽ chung tiền cho các con bạc gấp 02 hoặc 03 lần số tiền các con bạc đã đặt cược) và ngược lại nếu không có thì Đ thắng. Chiếu bạc đánh liên tục, đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày, thì bị lực lượng công an thị xã An Nhơn bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc gồm: 01 bộ thau nhôm, 01 bàn bầu cua bằng nhựa, 03 hột bầu cua bằng xốp, tiền mặt 13.200.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen.

Ngoài ra, quá trình điều tra còn có căn cứ xác định:

Đêm ngày 23/7/2020, Nguyễn Tấn Đ gọi điện thoại hỏi Đặng Quốc H về tỷ lệ cá cược bóng đá tại giải vô địch quốc gia Italia (Serie A). Đến khoảng 22h12’ ngày 23/7/2020, H dùng số điện thoại 0327.996.290 nhắn đến số điện thoại của Đ 0989315345 với nội dung: “Juventus 1da85 tx 2 3/4xa85 Lazio 1 1/4l tx 3l”. Tỷ lệ cá cược này được hiểu là:

Vào đêm ngày 23 rạng sáng ngày 24/7/2020, tại giải bóng đá vô địch quốc gia Italia (Serie A) có diễn ra 02 trận đấu bóng đá.

- Trận thứ nhất giữa đội Juventus và đội Udinese diễn ra vào lúc 0h30’, với nội dung tin nhắn tỷ lệ cá cược: “Juventus 1da85 tx 2 3/4xa85”, nghĩa là:

Nếu đội Juventus thắng đội Udinese với cách biệt 02 bàn thắng trở lên thì người cá cược chọn đội Juventus sẽ thắng đủ số tiền cá cược, ngược lại người cá cược chọn đội Udinese sẽ thua đủ số tiền cá cược.

Nếu đội Juventus thắng đội Udinese với cách biệt 01 bàn thì hai bên cá cược sẽ hòa tiền.

Nếu đội Juventus hòa hoặc thua đội Udinese thì người cá cược chọn đội Juventus sẽ thua 95% số tiền cá cược, nếu người cá cược chọn đội Udinese thì sẽ thắng 85% số tiền cá cược.

Nếu trận đấu có tổng tỷ số từ 04 bàn thắng trở lên thì người cá cược chọn tài sẽ thắng đủ số tiền cá cược, người cá cược chọn xỉu sẽ thua đủ số tiền cá cược.

Nếu trận đấu có tổng tỷ số 03 bàn thắng thì người cá cược chọn tài sẽ thắng 1/2 số tiền cá cược, người cá cược chọn xỉu sẽ thua 1/2 số tiền cá cược.

Nếu trận đấu có tổng tỷ số từ 02 bàn thắng trở xuống thì người cá cược chọn tài sẽ thua 95% số tiền cá cược, người cá cược chọn xỉu sẽ thắng 85% số tiền cá cược.

- Trận thứ hai giữa đội Lazio và đội Cagliari diễn ra vào lúc 2h45’, với nội dung tin nhắn tỷ lệ cá cược: “Lazio 1 1/4l tx 3l”, nghĩa là:

Nếu đội Lazio thắng đội Cagliari với cách biệt 02 bàn thắng trở lên thì người cá cược chọn đội Lazio sẽ thắng 90% số tiền cá cược, ngược lại người cá cược chọn đội Cagliari sẽ thua đủ số tiền cá cược.

Nếu đội Lazio thắng đội Cagliari với cách biệt 01 bàn thắng thì người cá cược chọn đội Lazio sẽ thua ½ số tiền cá cược, người cá cược chọn đội Cagliari sẽ thắng ½ của 90% số tiền cá cược.

Nếu đội Lazio hòa hoặc thua đội Cagliari thì người cá cược chọn đội Lazio sẽ thua đủ số tiền cá cược, nếu người cá cược chọn đội Cagliari thì sẽ thắng 90% số tiền cá cược.

Nếu trận đấu có tổng tỷ số từ 04 bàn thắng trở lên thì người cá cược chọn tài sẽ thắng 90% số tiền cá cược, người cá cược chọn xỉu sẽ thua đủ số tiền cá cược.

Nếu trận đấu có tổng tỷ số 03 bàn thắng thì người cá cược hòa tiền.

Nếu trận đấu có tổng tỷ số từ 02 bàn thắng trở xuống thì người cá cược chọn tài sẽ thua đủ số tiền cá cược, người cá cược chọn xỉu sẽ thắng 90% số tiền cá cược.

Sau khi nhận được tin nhắn tỷ lệ cá cược do H gửi đến, đến khoảng 22h45’ cùng ngày, Đ nhắn tin cho H với nội dung “Dươi Juve 3c”, nghĩa là: Đ bắt cược chọn đội Udinese thắng đội Juventus và tham gia cá cược với số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi nhận được tin nhắn do Đ gửi đến thì H nhắn tin “Dươi Juve 3c OK”, nghĩa là H đã đồng ý cá cược với Đ.

Kết quả trận đấu bóng đá giữa đội Juventus và đội Udinese có tổng tỷ số là Juventus 1- Udinese 2, tức là đội Udinese thắng. Đ cá cược đội Udinese thắng, nên số tiền Đ thắng cược là: 3.000.000 đồng x 85% = 2.550.000 đồng. Do đó, số tiền Đ đánh bạc là 5.550.000 đồng, còn số tiền đánh bạc của Đặng Quốc H là 2.550.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 01/QĐ-VKSAN ngày 10 tháng 12 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Bùi Văn S, Ngô Gia T, Nguyễn Đức Tr, Trần Thanh Nh, Bùi Văn T2, Huỳnh Thanh H, Trần Ngọc Th, Nguyễn Đình Th1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Bùi Văn S từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt các bị cáo Ngô Gia T, Nguyễn Đức Tr, Trần Thanh Nh mỗi bị cáo từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Trần Ngọc Th từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Bùi Văn T2 và bị cáo Huỳnh Thanh H, mỗi bị cáo từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đình Th1 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bộ thau nhôm, 03 hột bầu cua bằng xốp, 01 bàn bầu cua bằng nhựa;

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 14.830.000 đồng.

+ Truy thu bị cáo Nguyễn Tấn Đ số tiền 4.200.000 đồng (trong đó: 1.200.000đ là tiền dùng vào việc đánh bạc ngày 24/7/2020 và 3.000.000 đồng là tiền đánh bạc ngày 23/7/2020).

+ Truy thu bị cáo Bùi Văn T2 số tiền 250.000 đồng.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo và không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã An Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: khoảng 11 giờ ngày 24/7/2020, bị cáo Nguyễn Tấn Đ rủ các bị cáo Trần Ngọc Th, Nguyễn Đình Th1 và đối tượng tên Danh đến bãi đất trống thuộc khu vực Châu Thành, phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định để đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức xốc bầu cua. Bị cáo Đ cầm cái xốc hột bầu cua trực tiếp đánh bạc với các bị cáo Bùi Văn S, Ngô Gia T, Nguyễn Đức Tr, Trần Thanh Nh, Huỳnh Thanh H. Còn Th, Th1 và Danh đứng bên ngoài cảnh giới. Các bị cáo đánh bạc liên tục đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị xã An Nhơn bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 13.200.000đồng, 01 bộ thau nhôm, 03 hột bầu cua bằng xốp, 01 bàn bầu cua bằng nhựa và 01 điện thoại di động Nokia.

[3] Bị cáo Nguyễn Tấn Đ còn khai nhận, ngoài lần đánh bạc nêu trên, vào ngày 23/7/2020 bị cáo còn tham gia đánh bạc được thua bằng tiền, dưới hình thức cá cược bóng đá với Đặng Quốc H, với số tiền đánh bạc là 5.550.000 đồng.

[4] Các bị cáo là những công dân có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, ý thức được đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào đều bị Nhà nước nghiêm cấm. Nhưng vì muốn có thu nhập bất chính, các bị cáo cùng tham gia đánh bạc nhằm sát phạt lẫn nhau để được thắng thua bằng tiền. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Tấn Đ là người rủ rê, trực tiếp đánh bạc được thua bằng tiền với các bị cáo Bùi Văn S, Ngô Gia T, Nguyễn Đức Tr, Trần Thanh Nh, Huỳnh Thanh H. Các bị cáo Trần Ngọc Th, Nguyễn Đình Th1, không trực tiếp đánh bạc, nhưng đứng ngoài cảnh giới, nên vai trò là người giúp sức. Tuy vụ án có nhiều người tham gia đánh bạc, nhưng số lượng dưới 10 người, nên hành vi các bị cáo phạm vào tội: “Đánh bạc” quy định khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[5] Hành vi phạm tội các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh, lành mạnh của cộng đồng dân cư và làm mất trật tự trị an tại địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tiêu cực, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, để giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa tệ nạn này đang có chiều hướng gia tăng, thấy cần xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự. Loại và mức hình phạt áp dụng cho các bị cáo phải phù hợp với mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của từng bị cáo.

[6] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

[6.1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6.2] Các bị cáo Ngô Gia T, Nguyễn Đức Tr, Trần Thanh Nh, Bùi Văn T2, Huỳnh Thanh H, Trần Ngọc Th, Nguyễn Đình Th1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6.3] Các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Bùi Văn S, Bùi Văn T2, Huỳnh Thanh H, Nguyễn Đình Th1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “đầu thú” quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6.4] Bị cáo Nguyễn Tấn Đ có 02 lần thực hiện hành vi đánh bạc, số tiền đánh bạc mỗi lần đều trên 5.000.000đ, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6.5] Xét các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, số tiền các bị cáo đánh bạc thấp, nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly ra khỏi cuộc sống bình thường của xã hội mà để các bị cáo tự cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Về xử lý vật chứng:

+ 01 bàn bầu cua bằng nhựa, 03 hột bầu cua bằng xốp, 01 bộ thau nhôm, là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy

+ Đối với số tiền 14.830.000 đồng (trong đó: 13.200.000 đồng tiền thu giữ tại chiếu bạc, 900.000 đồng thu giữ của bị cáo T, 130.000đ thu của bị cáo Tr, 600.000đ thu giữ của bị cáo Nh) và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen của bị cáo Nguyễn Tấn Đ, là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Đ phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền dùng vào việc đánh bạc là 4.200.000đ, trong đó ngày 23/7/2020 với số tiền 3.000.000 đồng và ngày 24.7.2020 với số tiền 1.200.000đ.

+ Buộc bị cáo Bùi Văn T2 phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 250.000đ dùng vào việc đánh bạc.

[8] Đối với đối tượng Danh là người đã tham gia cảnh giới giúp sức cho các bị cáo đánh bạc. Cơ quan điều tra Công an thị xã An Nhơn đang tiến hành điều tra, xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

[9] Đối với Đặng Quốc H là người tham gia đánh bạc với Nguyễn Tấn Đ dưới hình thức cá độ đá bóng, với số tiền đánh bạc là 2.550.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng), nên Cơ quan điều tra Công an thị xã An Nhơn đã ra quyết định xử phạt vi phạt hành chính, tịch thu số tiền đánh bạc là phù hợp.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Bùi Văn S, Ngô Gia T, Nguyễn Đức Tr, Trần Thanh Nh, Bùi Văn T2, Huỳnh Thanh H, Trần Ngọc Th, Nguyễn Đình Th1 phạm tội: “Đánh bạc” * Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ, được tính trừ 03 (ba) tháng tạm giữ, tạm giam (từ ngày 26/7/2020 đến 23/10/2020), quy đổi thành 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo Đ còn phải chấp hành 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Tấn Đ cho UBND phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

* Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Bùi Văn S cho UBND xã Nhơn Mỹ, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

* Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự,

- Xử phạt bị cáo Ngô Gia T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được tính trừ 08 (tám) ngày tạm giữ (từ ngày 24/7/2020 đến 01/8/2020), quy đổi thành 24 (hai mươi bốn) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo T còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 06 (sáu) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Tr 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được tính trừ 08 (tám) ngày tạm giữ (từ ngày 24/7/2020 đến 01/8/2020), quy đổi thành 24 (hai mươi bốn) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Tr còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 06 (sáu) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao các bị cáo Ngô Gia T, Nguyễn Đức Tr cho UBND xã Nhơn Phong, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt bị cáo Trần Thanh Nh 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được tính trừ 08 (tám) ngày tạm giữ (từ ngày 24/7/2020 đến 01/8/2020), quy đổi thành 24 (hai mươi bốn) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Nh còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 06 (sáu) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Thanh Nh cho UBND xã Cát Tân, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Th 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Ngọc Th cho UBND xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

* Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự,

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Th1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Đình Th1 cho UBND phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh H 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Huỳnh Thanh H cho UBND xã Cát Tân, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ nhu nhập đối với các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Bùi Văn S, Ngô Gia T, Nguyễn Đức Tr, Trần Thanh Nh, Huỳnh Thanh H, Trần Ngọc Th, Nguyễn Đình Th1, do các bị cáo không có thu nhập ổn định.

* Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự,

- Xử phạt bị cáo Bùi Văn T2 số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, mỗi tháng nộp số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng tại Cơ quan Thi hành án dân sự ngay khi bản án có hiệu lực thi hành

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự,

+ Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 bàn bầu cua bằng nhựa, 03 hột bầu cua bằng xốp, 01 bộ thau nhôm;

+ Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen;

(Hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án Dân sự thị xã An Nhơn theo Biên bản giao nhận chứng lập ngày 18/12/2020).

+ Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 14.830.000 đồng (Hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã An Nhơn theo Giấy nộp tiền mặt số 12491066 ngày 18/01/2021 tại Ngân hàng BIDV, Chi nhánh Phú Tài, Phòng giao dịch An Nhơn) + Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Đ nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 4.200.000 (bốn triệu hai trăm nghìn) đồng.

+ Buộc bị cáo Bùi Văn T2 nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Bùi Văn S, Ngô Gia T, Nguyễn Đức Tr, Trần Thanh Nh, Bùi Văn T2, Huỳnh Thanh H, Trần Ngọc Th, Nguyễn Đình Th1 phải chịu mỗi người 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

* Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Quốc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

"Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2021/HS-ST ngày 19/01/2021 về tội đánh bạc

Số hiệu:04/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Nhơn - Bình Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về