Bản án 04/2020/HS-ST ngày 25/12/2019 về tội môi giới mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 04/2020/HS-ST NGÀY 25/12/2019 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 25 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Thùy L, sinh năm 1990;

HKTT: thôn NK, xã NK, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: không; con ông Phạm Đức L, sinh năm 1960; con bà Phạm Thị H, sinh năm 1965; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; chồng: Phạm Văn T, sinh năm 1986; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/10/2019 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố Bắc Ninh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994; Địa chỉ: T5, xóm DC, xã TK, Thanh Sơn, Phú Thọ; Nơi cư trú: K10, ĐP, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 13 giờ 00 phút ngày 11/10/2019, tại phòng 502 nhà nghỉ ThT, số 56 đường TQB, phường KB, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Công an thành phố Bắc Ninh kiểm tra hành chính phát hiện Nguyễn Thị T đang có hành vi bán dâm cho đối tượng tự khai là Đỗ Văn T2, sinh năm 1980, HKTT: khu TS, phường VN, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Vật chứng thu giữ; 01 bao cao su đã qua sử dụng.

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận hành vi mua bán dâm như sau.

Nguyễn Thị T và Phạm Thùy L có quan hệ quen biết với nhau từ trước. T bảo với L do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên nếu L biết khách nào có nhu cầu mua dâm thì giới thiệu cho T. Ngày 10/10/2019, Nguyễn Viết N, sinh năm 1995; HKTT: k3, phường ĐP, thành phố Bắc Ninh có nói chuyện với L trưa ngày 11/10/2019, N có bạn về chơi rủ L đi cùng, nếu L có bạn thì rủ bạn cùng đi. L đồng ý. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 01/10/2019, L đi taxi cùng với T đến quán “RV” ở đường NCH, khu YN, phường KB, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, L gặp N, Nguyễn Thế D, sinh năm 1982 ở thôn SN, NS thành phố Bắc Ninh và Đỗ Văn T2 (cùng là bạn của N). Cả nhóm cùng ăn uống tại tầng 2 quán RV. Quá trình ăn uống, T2 nảy sinh ý định mua dâm nên bảo L “tí em xem có gọi giúp anh một bạn gái đi nhà nghỉ quan hệ vui vẻ với anh” (ý T2 là bảo đi mua dâm, nhờ L tìm giúp). L đồng ý và cả L và T2 đi vào nhà vệ sinh tầng 2. Cả hai thỏa thuận giá mua bán dâm là 1.500.000đ/ người. T2 đưa cho L 2.000.000 đồng (gồm 4 tờ tiền mệnh giá 500.000đ) và nói “cho em 500.000đ tiền quà”. L hiểu T2 trả tiền mua dâm 1.500.000đ và 500.000đ tiền công môi giới. L cầm tiền và cả hai cùng quay lại bàn ăn với mọi người. L bảo với T “Tý đi chơi với T2, tiền chị nhận rồi, không phải nhận thêm gì nữa, nếu khách cho thêm thì cứ lấy”. T hiểu ý L bảo T đi bán dâm cho T2 và đồng ý. Sau đó L đi taxi về trước. T cùng T2 đi mua bán dâm tại phòng 502 nhà nghỉ ThT, khi cả hai đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị bắt quả tang. Trong quá trình điều tra L tự nguyện giao nộp số tiền 2.000.000 đồng.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 251/CT-VKSTPBN ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Thùy L về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thùy L cho rằng mình không phạm tội nhưng bị cáo có thừa nhận việc nhận tiền của T2 và bị cáo có nói với T việc đã nhận tiền. L cũng thừa nhận khi nói như vậy T sẽ hiểu là L đã cầm tiền để T đi bán dâm cho T2 nhưng không biết T sẽ bán dâm cho T2 khi nào. Sau khi được Hội đồng xét xử giải thích bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm, thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải và xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Thùy L phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 328, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thùy L từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2019. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng; tịch thu sung công quỹ số tiền 2.000.000 đồng do phạm tội mà có Bị cáo không tham gia tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Thùy L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa và những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 11/10/2019, Phạm Thùy L đã có hành vi môi giới để Nguyễn Thị T bán dâm cho Đỗ Văn T2. Với hành vi trên, đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự, an toàn công cộng, tạo điều kiện cho tệ nạn mại dâm phát triển gây ảnh hướng xấu đến thuần phong mỹ tục, bản sắc, nếp sống văn hóa của người Việt. Mại dâm còn làm tăng nguy cơ lây truyền những căn bệnh nguy hiểm đặc biệt là đại dịch HIV/AIDS. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức về pháp luật, cần phải biết rõ việc môi giới mua bán dâm là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Ngoài ra, bị cáo phạm tội với mục đích lợi nhuận nên cần phải có hình phạt bổ sung là phạt tiền để đảm bảo răn đe.

[3]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo Phạm Thùy L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo L là đối tượng có nhận thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Lần phạm tội này của bị cáo là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa ngày hôm nay, mặc dù ban đầu bị cáo còn quanh co chối tội nhưng sau đó đã thành khẩn khai báo và thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. [4]. Về vật chứng:

Đi với 01 bao cao su đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đi với số tiền 2.000.000 đồng bị cáo nộp cho cơ quan điều tra: đây là tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ.

[5]. Về án phí: Bị cáo Phạm Thùy L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 328, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136, 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thùy L phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thùy L 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/10/2019.

Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước Căn cứ Điều 329 BLTTHS Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Thùy L 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

2. Về vật chứng trong vụ án:

Tch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng.

Tch thu sung công quỹ số tiền 2.000.000 đồng do bị cáo Phạm Thùy L nộp.

Vật chứng trên được miêu tả trong biên bản giao nhận tài sản, vật chứng số 44 ngày 02 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.

3. Bị cáo Phạm Thùy L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2020/HS-ST ngày 25/12/2019 về tội môi giới mại dâm

Số hiệu:04/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Ninh - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về