Bản án 04/2020/HNGĐ-ST ngày 12/03/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

BN ÁN 04/2020/HNGĐ-ST NGÀY 12/03/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 12 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 660/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXX ngày 18 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm: 1980; địa chỉ: Số 93, tổ 19, ấp Long Tân, xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm: 1987; địa chỉ: Ấp Lộc Trung, xã Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 26 tháng 11 năm 2019, quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Văn V trình bày:

Anh và chị N tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2004, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Anh và chị N sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là chị N đi làm xí nghiệp và đã về nhà cha mẹ ruột sống. Năm 2016, chị N làm đơn xin ly hôn gửi ở Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành giải quyết. Anh xin đoàn tụ nên chị N rút đơn về, sống được mấy ngày rồi chị N lại bỏ về nhà mẹ ruột sống và ly thân cho đến nay. Anh cũng khuyên nhủ nhiều lần nhưng chị N vẫn không quay trở về. Anh thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Nguyễn Thanh P, sinh ngày: 05-9-2005. Từ nhỏ đến nay con chung ở cùng anh. Ly hôn anh xin nuôi con chung, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị N đã được Tòa án Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trình bày:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự; Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Đề nghị giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh V đối với chị N; Giao con chung cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung, chị N được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về án phí dân sự sơ thẩm anh V phải chịu theo quy định của pháp luật.

- Kiến nghị khác: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Anh V có đơn xin giải quyết vắng mặt. Chị N đã được Tòa án Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án xét xử vắng mặt anh V, chị N theo Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét về quan hệ hôn nhân: Anh V xác định tự nguyện sống chung với chị N từ năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Thành Bắc, Huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[3] Xét về mâu thuẫn vợ chồng: Anh V và chị N sống hạnh phúc được thời gian đầu. Từ năm 2012 đến nay phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị N bỏ nhà về cha mẹ ruột sinh sống. Năm 2016, chị N làm đơn xin ly hôn nhưng do anh V còn thương vợ nên Tòa án hàn gắn chị N rút đơn về. Sống chung được thời gian ngắn chị N lại bỏ về nhà mẹ ruột sống ly thân cho đến nay. Anh đã cố gắng khuyên vợ quay về nhưng chị N không về nên anh xin ly hôn. Chị N không lên Tòa án để hàn gắn vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng anh V, chị N không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ vợ chồng. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh V, chị N.

[4] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Thanh P, sinh ngày: 05-9-2005. Hiện nay con chung đang ở với anh V. Ly hôn anh V xin được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị N cấp dưỡng. Nguyện vọng của con chung là được ở với cha. Chị N không đến Tòa án để hòa giải về con chung. Hội đồng xét xử giao con chung cho anh V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị N được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Nhận xét và quan điểm nêu trên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ.

[7] Về án phí: Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án anh V là nguyên đơn phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

n cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn V với chị Nguyễn Thị Mỹ N.

Anh Nguyễn Văn V được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ N.

2. Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Nguyễn Thanh P, sinh ngày: 05-9-2005. Giao con chung cho anh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh V không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn V phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí sơ thẩm dân sự nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí khởi kiện anh V đã nộp theo biên lai thu số 0003912 ngày 02-12-2019 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Anh V đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyết định này có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2020/HNGĐ-ST ngày 12/03/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:04/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 12/03/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về