Bản án 04/2020/HNGĐ-ST ngày 05/02/2020 về tranh chấp xin ly hôn

A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 04/2020/HNGĐ-ST NGÀY 05/02/2020 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 05 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 832/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp: “Xin ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Ngọc Phương U, sinh năm 1994 (có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, Bến Tre.

* Bị đơn: Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1991 (có mặt)

Địa chỉ: 14/22, đường Đ, phường 8, TP.M, Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Phương U trình bày: chị và anh T cưới nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố M vào năm 2016.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, anh T không lo làm ăn, không chăm sóc vợ con. Nay do mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Phúc N, sinh năm 2017, chị U yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Hoàng T trình bày: anh và chị U quen biết, tìm hiểu rồi cưới nhau năm 2016. Trong cuộc sống hôn nhân có xảy ra mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn chưa trầm trọng, nguyên nhân do anh không lo làm ăn. Nay anh không đồng ý ly hôn với chị U, vì tình cảm vợ chồng vẫn còn và còn khả năng hàn gắn.

Về con chung: có 01 con chung là cháu N, hiện đang sống với chị U, trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh đồng ý giao con cho chị U nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu: Từ khi thụ lý vụ kiện và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều đã thực hiện đúng qui định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng qui định Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị U. Giao con cho chị U nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Chị U và anh T cưới nhau và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường 8, thành phố M vào năm 2016. Chị U và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Phúc N, sinh năm 2017.

Theo chị U trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do anh T ham chơi, không lo làm ăn, không quan tâm vợ con, chị U đã khuyên nhũ và cho cơ hội nhiều lần nhưng anh T không sửa đổi.

Anh T thì thừa nhận có ăn chơi, không lo được nhiều cho vợ con, anh muốn hàn gắn nhưng không đưa ra được biện pháp gì để hàn gắn lại hạnh phúc.

Tại phiên tòa hôm nay chị U vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn.

Qua đó cho thấy chị U và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu xin ly hôn của chị U là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: anh chị có 01 con chung là cháu N, chị U yêu cầu được nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu N đang sống với chị U. Anh T đồng ý giao con cho chị U nuôi dưỡng nên yêu cầu này của chị U là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị U không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Về tài sản chung: hai bên khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về nợ chung: hai bên khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Chị U phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Về hôn nhân: cho chị Nguyễn Ngọc Phương U được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

2/ Về con chung: giao cháu Nguyễn Phúc N, sinh ngày 16/3/2017 cho chị U nuôi dưỡng.

Anh T có quyền tới lui, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

3/ Về tài sản chung: không có, không yêu cầu.

4/ Về nợ chung: không có, không yêu cầu.

5/ Về án phí: Chị U phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị U đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000726 ngày 06/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên xem như đã nộp xong.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Tng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2020/HNGĐ-ST ngày 05/02/2020 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:04/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 05/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về