Bản án 04/2019/HS-ST ngày 14/05/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

BẢN ÁN 04/2019/HS-ST NGÀY 14/05/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Trong ngày 14 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh năm 1990 tại: tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Thôn An Lai, xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khuyên và bà Hồ Thị Nguyệt; vợ, con: Chưa; tiền án: Chưa; tiền sự: Chưa;

Nhân thân: Nhỏ sinh sống cùng gia đình tại thôn An Lai, xã Lộc An được gia đình cho ăn học đến lớp 12/12. Sau đó thi đỗ vào Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng chuyên ngành kỹ thuật tàu thủy 05 năm rồi nghỉ học. Từ năm 2014-2017 làm công nhân điện lạnh tại Quận Long Biên, thành phố Hà Nội và học lái xe ô tô hạng C tại Trung tâm đào tạo sát hạch lái xe ô tô Tâm An từ tháng 3/2018 đến tháng 06/2018 thì tốt nghiệp ra trường. Từ tháng 6/2018 làm công nhân cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại và dịch vụ Kim Hùng cho đến ngày phạm tội; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Bị hại: Bà Đào Thị H, sinh năm 1961 (đã chết).

Nơi cư trú: Thôn Thành Trung, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Người đại diện hợp pháp của bà H:

1. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình M, sinh năm 1959 (chồng bà Hồng), có mặt.

Nơi cư trú: Thôn Thành Trung, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

2. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Đình Thặng, sinh năm 1985. (các con của bà H và ông M gồm anh Nguyễn Đình Thắng; chị Nguyễn Thị Đình Thủy và anh Nguyễn Đình Chung đã ủy quyền lại cho anh Thặng), có mặt.

Nơi cư trú: Thôn Thành Trung, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Bị đơn Dân sự: Công ty TNHH SXTM & DV Kim Hùng.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thế T, sinh năm 1977 - Chức vụ: Giám đốc;

Nơi cư trú: 94 Tăng Bạt Hổ, phường Phú Bình, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Ngô Văn Duy, sinh năm 1988;

Trú tại: Thôn Lan Xá cồn, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Quang Hồi, sinh năm 1956 ;

Trú tại: Thôn Thành Trung, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h00 ngày 10/12/2018, Nguyễn Văn M có giấy phép lái xe hợp lệ điều khiển xe ôtô, biển kiểm soát 75C- 006.70 lưu thông theo hướng từ thôn Kim Đôi đi thôn Thành Trung, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền. Khi đến đoạn đường bê tông trước Trường mầm non Kim Thành, thuộc Thôn Thành Trung, xã Quảng Thành, Minh điều khiển xe ô tô không đi sát bên phải theo phần đường của mình, không giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép, có thể dừng lại một cách an toàn và trong điều kiện trời mưa, gió làm tầm nhìn bị hạn chế cho nên gây tai nạn giao thông với bà Đào Thị H, trú tại: thôn Thành Trung, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 75FB- 8429 đi một mình theo hướng ngược lại.

Hậu quả: Bà H được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Trung ương Huế nhưng do vết thương quá nặng nên đã tử vong tại Bệnh viện.

Xe ôtô biển kiểm soát 75C-006.70 và xe xe mô tô biển kiểm soát: 75FB- 8429 bị hư hỏng nhẹ.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 10 giờ 00 phút ngày 10/12/2018 xác định:

Hiện trường vụ tai nạn xảy ra thuộc đường bê tông liên thôn từ Tây Thành về Kim Đôi thuộc thôn Thành Trung, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền. Đây là đoạn đường thẳng, có biển báo nguy hiểm “đoạn đường có nhiều trẻ em đi qua đường”, không có vật cản che khuất tầm nhìn; mặt đường được đúc bằng bê tông rộng 3,5m, hai bên đường là lề đất, bên ngoài lề đường tiếp giáp với ruộng và khu dân cư.

Chọn hướng khám nghiệm từ Kim Đôi đi Tây Thành, chọn mốc cố định là trụ hàng rào bên phải nhà bà Hoa viết tắt là 11, chọn mép đường bên phải làm chuẩn viết tắt là 11P.

Số 1 vết mài xước đường sạch bụi gồm 2 đường xước không liên tục và song song, hai đường này có chiều rộng giống nhau là 12,5cm, có chiều dài 12,9m có chiều hướng cùng chiều khám nghiệm. Điểm đầu đường xước phía trong đường cách 11P là 0,6m, điểm cuối nằm sát với 2 bánh sau bên phải xe ô tô.

Số 2 vết mài xước đường sạch bụi gồm 2 đường xước không liên tục và song song, hai đường này có chiều rộng giống nhau là 12,5cm, có chiều dài 11,7m. Điểm đầu đường xước phía trong đường cách 11P là 1,8m, điểm cuối nằm sát với 2 bánh sau bên trái xe ô tô. Khoảng cách gần nhau giữa hai đường xước số 01 và số 02 là 1,4m.

Số 3 mảnh vỡ thủy tinh, kích thước 90x30cm có tâm cách tâm bánh sau bên trái xe ô tô là 4m theo hướng cùng chiều khám nghiệm và cách 11P là 2,8m.

Xe ôtô biển kiểm soát 75C-006.70 đầu hướng về Tây Thành đuôi hướng ngược lại. Xe có vị trí tâm bánh trước bên phải cách 11 là 5,58m theo hướng chiều khám nghiệm và cách mép đường là 0,28m. Tâm bánh sau bên phải cách mép đường là 0,3m.

Xe môtô biển kiểm soát 75FB-8429 đang ở trong trạng thái ngã nghiêng bên phải, đầu hướng về Kim Đôi, đuôi hướng ngược lại. Xe có vị trí trục trước cách tâm bánh trước bên trái xe ôtô 0,5m về hướng Tây Thành và cách 11P là 1,9m, trục sau cách 11P là 2,45m.

Ngày 10/12/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Điền có Quyết định trưng cầu giám định dấu vết cơ học đối với hai phương tiện.

Đến ngày 25/01/2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế đã kết luận như sau: Hai phương tiện là ôtô biển kiểm soát 75C-006.70 và xe môtô biển kiểm soát 75FB-8329 va chạm với nhau. Tại các chi tiết trên xe ôtô biển kiểm soát 75C-006.70 mặt ngoài bên trái cabin và cần trước bên trái xe với các chi tiết trên xe môtô biển kiểm soát 75FB-8429 tay lái bên trái và ốp giảm xóc phía trước bên trái của xe phù hợp với cơ chế từ trước ra sau của mỗi xe.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 472/GĐ ngày 14/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế đối với bà Đào Thị H kết luận:

Vết rách da vùng cằm bờ mép sắc, hướng nằm ngang, kích thước 1,5x1 cm. 02 vết rách da vùng chẩm có bờ mép nham nhở nằm kề nhau, vết thứ nhất hướng chếch 30 độ sang phải kích thước 0,5x1 cm, vết còn lại hướng nằm ngang kích thước 1x0,5cm.

Gãy 1/3 dưới 02 xương cẳng tay trái.

Gãy đốt sóng cổ C4- C5.

Nguyên nhân chết: Đa chấn thương, gãy đốt sống cổ C4-C5.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Hon đa, màu xanh Biển kiểm soát 75FB - 8429.

- 01 xe tô tô tải mang Biển kiểm soát 75C-006.70 màu xanh.

- 01 giấy chứng nhận kiểm định xe 75C-006.70.

- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe 75C-006.70.

- 01 CMND mang tên Nguyễn Văn M.

- 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Văn M.

Ngày 28/12/2018 và ngày 06/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Điền ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 06 và số 11 bằng hình thức trả lại tài sản cho chủ sở hữu là ông Phan Thế T: 01 xe ô tô Biển kiểm soát 75C-006.70; 01 giấy chứng nhận kiểm định của xe 75C-006.70; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm của xe 75C-006.70; trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M 01 CMND mang tên Nguyễn Văn M.

Ngày 18/3/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền ra Quyết định xử lý vật chứng số 01 trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn M (chồng của bà Hồng) chiếc xe môtô biển kiểm soát 75FB-8429.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tai nạn bị cáo Nguyễn Văn M và đại diện của Công ty TNHH SXTM & DV Kim Hùng tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 78.000.000đ (bảy mươi tám triệu đồng), hiện ông Nguyễn Đình Thặng (là người đại diện hợp pháp cho người bị hại) đã nhận 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng), còn lại 43.000.0000đ (bốn mươi ba triệu đồng), yêu cầu bị cáo Minh và đại diện Công ty TNHH SXTM & DV Kim Hùng phải tiếp tục bồi thường như đã thỏa thuận.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 25/3/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 12-15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24-30 tháng .

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng các Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự 2015. Chấp nhận sự thỏa thuận giữa các bên; công ty TNHH SXTM & DV Kim Hùng-đại diện theo pháp luật là ông Phan Thế T; chức vụ: giám đốc phải bồi thường tiếp số tiền 43.000.000đ cho ông Nguyễn Đình M.

Về vật chứng vụ án: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn M.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Đình M và anh Nguyễn Đình Thặng có ý kiến yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09h00 ngày 10/12/2018, Nguyễn Văn M điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 75C-006.70 lưu thông theo hướng từ thôn Kim Đôi lên thôn Thành Trung, khi đến trước trường Mầm non Kim Thành, thuộc thôn Thành Trung, xã Quảng Thành do không quan sát, không giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều chạy xe của mình trong lúc tránh xe đi ngược chiều, va chạm với xe mô tô biển kiểm soát: 75FB-8429 do bà Đào Thị H điều khiển đi một mình theo hướng ngược lại dẫn đến gây tai nạn. Hậu quả tai nạn bà Hồng được đưa đi cấp cứu thì chết.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, lời khai của đại diện người bị hại, người làm chứng; phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông đã xác định Nguyễn Văn M thiếu quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn và cho xe đi về bên phía bên phải theo chiều xe chạy của mình gây tai nạn là vi phạm khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ năm 2008; không giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép, có thể dừng lại một cách an toàn khi thấy bà H đi ngược chiều và trong điều kiện trời mưa, gió làm tầm nhìn bị hạn chế là vi phạm vào Khoản 2, khoản 8, khoản 11 Điều 5, Thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải về các trường hợp phải giảm tốc độ. Do vậy, VKSND huyện Quảng Điền truy tố bị cáo về tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi vô ý nhưng thuộc trường hợp nghiêm trọng gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, gây mất mát lớn cho gia đình người bị hại; đồng thời xâm phạm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. Do vậy cần phải có hình phạt tương xứng đối với hành vi mà bị cáo gây ra.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy rằng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị xem xét miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: bị cáo nhận thức được pháp luật và xã hội, mặc dù thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng do chủ quan nên không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông trong quá trình tham gia giao thông dẫn đến việc phạm tội. Nguyên nhân của vụ tai nạn lỗi chính thuộc về Nguyễn Văn M; tuy nhiên người bị hại là bà Đào Thị H cũng có lỗi một phần là điều khiển xe tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm, không giảm tốc độ khi tầm nhìn bị hạn chế và tránh xe đi ngược chiều và không cho xe đi về phía bên phải theo chiều xe chạy của mình là vi phạm vào khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ và khoản 2, khoản 8, khoản 11, Điều 5 Thông tư liên tịch số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải về các trường hợp phải giảm tốc độ.

Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng. Nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Căn cứ vào các tình tiết, nội dung của vụ án và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của HĐTP.TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội; vì vậy cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo, đại diện Công ty TNHH SXTM & DV Kim Hùng và đại diện hợp pháp, đại diện theo ủy quyền của người bị hại đã tự nguyện thỏa thuận số tiền 78.000.000đ để chi phí điều trị và chi phí mai táng cho người bị hại. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện hợp pháp, đại diện theo ủy quyền của người bị hại thừa nhận bị cáo và công ty đã bồi thường số tiền là 35.000.000 đ. Các bên thỏa thuận công ty phải bồi thường tiếp số tiền còn thiếu là 43.000.000 đồng cho ông M. Sự thỏa thuận của công ty, bị cáo và ông M, anh Thặng là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử nghĩ cần chấp nhận.

[7] Về vật chứng: Các vật chứng đã được trả lại của cơ quan cảnh sát điều tra và viện kiểm sát. Tại phiên tòa hôm nay, không ai có khiếu nại hay ý kiến gì khác.

Đối với giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Văn M, tại phiên tòa bị cáo xin được nhận lại giấy phép lái xe để làm phương tiện sinh sống; do đó căn cứ vào Điều 89, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, nghĩ cần trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Công ty TNHH SXTM & DV Kim Hùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn M 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30(ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 584, 585, 591 Bộ luật dân sự. Chấp nhận sự thỏa thuận của các bên; Công ty TNHH SXTM & DV Kim Hùng - đại diện theo pháp luật là ông Phan Thế T, giám đốc phải tiếp tục bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Nguyễn Đình M số tiền 43.000.000 đồng (Bốn mươi ba triệu đồng).

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 89, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Văn M (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Quảng Điền với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc Công ty TNHH SXTM & DV Kim Hùng-đại diện theo pháp luật là ông Phan Thế T, giám đốc phải chịu 2.150.000 đồng (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


30
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về