Bản án 04/2018/HSST ngày 15/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CX,  TỈNH HT

BẢN ÁN 04/2018/HSST NGÀY 15/03/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở TAND huyện Cẩm X, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06, ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/HSST-QĐ ngày 28/2/2018 đối với bị cáo:

Lê Văn B, Sinh ngày: 10/6/1996, Nơi sinh: xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh HT; Nơi cư trú: Thôn QT, xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh HT; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Lê Văn L; Sinh năm: 1964; Họ và tên mẹ: Lê Thị Q; Sinh năm: 1965; Hiện tại cả bố và mẹ đều làm ruộng và trú quán tại xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh HT; Anh chị em ruột: Có ba người, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không ; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2017 đến ngày 25/12/2017, được áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Anh Tr, sinh năm 1971; nghề nghiệp: Buôn bán, trú tại: Thôn 8, xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh HT, có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê Văn L, sinh năm 1964; Nghề nghiệp: Làm ruộng, Trú tại: Thôn QT, xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh HT, có mặt.

- Anh Trần Văn C, sinh năm 1964, nghề nghiệp: Buôn bán, trú tại Tổ dân phố 14, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh HT, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Lê Văn B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm X, tỉnh HT truy tố về hành vi phạm tội như sau: Tối ngày 13/9/2017, Lê Văn B mượn xe máy của bố là Lê Văn L đi chơi. Khoảng 23giờ cùng ngày, trên đường đi chơi về thấy nhà anh Lê Anh Tr, ở thôn 1, xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh HT cửa cổng làm bằng lưới sắt B40, đèn điện trong nhà vẫn sáng, nên Lê Văn B nảy sinh ý định đột nhập vào nhà anh Tr để lấy trộm tài sản. Lê Văn B đi xe máy về nhà lấy chiếc kìm của gia đình, rồi đi đến nhà anh Lê Anh Tr, dùng kìm cắt lưới sắt của cửa cổng chui vào nhà. Khi vào nhà, Lê Văn B tìm trong ốt bán hàng trước cửa nhà nhưng không thấy tài sản gì có giá trị, nên Lê Văn B đi vào trong nhà để tiếp tục lục tìm tài sản. Khi vào trong nhà thấy cửa phòng ngủ chỉ khép lại, không khóa nên Lê Văn B đi vào trong phòng ngủ, qua ánh đèn từ ngoài hiên dọi vào Lê Văn B nhìn thấy trên đầu giường có treo một chiếc áo khoác, B lấy chiếc áo xuống để trên giường và lục tìm trong túi áo thì thấy một chiếc nhẫn vàng và một chiếc đồng hồ. Lê Văn B lấy nhẫn vàng và đồng hồ bỏ vào túi quần của mình rồi đi về. Khi đi qua phòng khách, thấy chùm chìa khóa để trên tủ kính, Lê Văn B lấy chùm chìa khóa ra mở khóa cổng và để chìa khóa trong ổ khóa rồi ra về. Khi về nhà, Lê Văn B cất dấu đồng hồ và nhẫn vàng trong phòng ngủ của mình. Đến ngày 20/9/2017, Lê Văn B đem chiếc nhẫn vàng trộm cắp được đến bán cho anh Trần Văn C, chủ hiệu vàng Minh Công ở Chợ Hội, thị trấn Cẩm X được 3.700.000đ, còn chiếc đồng hồ, Lê Văn B giữ lại để sử dụng. Khi bán nhẫn vàng, Lê Văn B nói dối là vàng của mình nên anh Trần Văn C không biết tài sản do trộm cắp mà có. Số tiền bán nhẫn vàng do trộm cắp mà có, Lê Văn B sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 22/12/2017, Lê Văn B đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm X tự thú về hành vi phạm tội của mình và giao nộp chiếc đồng hồ trộm cắp được cho Cơ quan điều tra. Chiếc đồng hồ hiệu Loyal và nhẫn vàng mà Lê Văn B trộm cắp là của anh Lê Anh Tru, sinh năm 1971, trú tại thôn 8, xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh HT. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Cẩm X thì chiếc đồng hồ hiệu Loyal trị giá 5.500.000đ và theo kết quả đánh giá chất lượng và giá vàng tại thời điểm Lê Văn B trộm cắp, của Doanh nghiệp vàng bạc Hằng Châu, ở Thị trấn Cẩm X thì: chiếc nhẫn vàng có trọng lượng 05 chỉ, loại vàng 18K, trị giá 13.045.000đ. Tổng giá trị tài sản mà Lê Văn B trộm cắp của anh Lê Anh Tr là 18.545.000đ.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm X đã thu giữ một chiếc đồng hồ hiệu Loyal và một chiếc kìm làm bằng kim loại, dài 12cm, do Lê Văn Bằng giao nộp; chiếc nhẫn vàng, do anh Trần Văn C đã bán cho người không quen biết nên không thu hồi được; còn chiếc xe máy BKS: 38X1-107.11 mà Lê Văn B sử dụng làm phương tiện phạm tội là của ông Lê Văn L nên Cơ quan điều tra không thu giữ. Chiếc đồng hồ hiệu Loyal đã trả lại cho bị hại Lê Anh Tr, còn chiếc kìm đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê Văn L.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi anh Lê Anh Tr xin nhận lại chiếc đồng hồ thay cho việc bồi thường và bị cáo Lê Văn B đã tác động gia đình bồi thường cho anh Lê Anh Tr tổng số tiền là 13.045.000đ, tại phiên tòa người bị hại Lê Anh Tr không yêu cầu bị cáo Lê Văn B phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Với hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số 06/CTr-KSĐT ngày 08/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm X, tỉnh HT đã truy tố bị cáo Lê Văn B về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b,h,p,o khoản 1, 2 điều 46, điều 60 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn B từ 9 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Lê Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 23 giờ, ngày 13/9/2017, Lê Văn B đã dùng kìm cắt cửa cổng và đột nhập vào nhà anh Lê Anh Tr, ở thôn 1, xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh HT lấy trộm của anh Lê Anh Tr một chiếc đồng hồ hiệu Loyal và một chiếc nhẫn vàng 18k, trọng lượng 05 chỉ, với tổng trị giá tài sản là 18.545.000đ. Sau khi lấy trộm tài sản, Lê Văn B đã bán chiếc nhẫn vàng lấy 3.700.000đ để chi tiêu, còn chiếc đồng hồ Lê Văn B giữ lại để sử dụng. Đến ngày 22/12/2017, Lê Văn B đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm X tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn B đã đủ yếu tố để cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS. Vì vậy Cáo trạng số 06/Ctr-KSĐT, ngày 08/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm X, truy tố Lê Văn B với tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[4] Hành vi phạm tội của Lê Văn B đã xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình cần căn cứ nhân thân, hoàn cảnh gia đình, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét về nhân thân, bị cáo Lê Văn B có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tại hồ sơ và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn, hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; và đã tự thú hành vi phạm tội của mình, người bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường và tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, p, o khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Vì vậy, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Bằng ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng điều 60 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo ăn năm hối cải trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm X đã thu giữ một chiếc đồng hồ hiệu Loyal và một chiếc kìm làm bằng kim loại, dài 12cm do Lê Văn B giao nộp; chiếc nhẫn vàng, do anh Trần Văn C đã bán cho người không quen biết nên không thu hồi được; còn chiếc xe máy BKS: mà Lê Văn B sử dụng làm phương tiện phạm tội là của ông Lê Văn L, do ông L không có lỗi trong việc để Lê Văn B sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không thu giữ. Chiếc đồng hồ hiệu Loyal đã trả lại cho bị hại Lê Anh Tr, còn chiếc kìm đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê Văn L (bố của Lê Văn B) do ông L không có lỗi trong việc để Lê Văn B sử dụng chiếc Kìm làm công cụ phạm tội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi anh Lê Anh Tr đồng ý nhận lại chiếc đồng hồ thay cho việc bồi thường và bị cáo Lê Văn B đã tác động gia đình bồi thường cho anh Lê Anh Tr tổng số tiền 13.045.000đ, tại phiên tòa bị hại Lê Anh Tr không yêu cầu bị cáo Lê Văn B phải bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo bằng phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố bị cáo Lê Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Áp dụng khoản 1, điều 138; điểm b,h,p,o khoản 1, 2 điều 46; điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009: Xử phạt Lê Văn B 9 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bằng cho chính quyền địa phương xã Cẩm L, huyện Cẩm X quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.

Áp dụng khoản 1 điều 69 Luật thi Hành án hình sự: Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh th× cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cã tr¸ch nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho caơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật này và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

[3] Về án phí: áp dụng khoản 1,2 điều 235, khoản 2 điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự và điểm, khoản 1, điều 3, khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 xử buộc bị cáo Lê Văn Bằng phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2018/HSST ngày 15/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:04/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về