Bản án 04/2018/HNGĐ-ST ngày 11/01/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUÔT, TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 04/2018/HNGĐ-ST NGÀY 11/001/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 11/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 849/2017/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2017 về tranh chấp: “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1986; Địa chỉ: xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Dương Văn A, sinh năm 1979; Địa chỉ: xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 11/8/2017, trong qua trinh giai quyết vu an và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Kim N trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim N và anh Dương Văn A tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk ngày 18/4/2009.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh A thường xuyên đi uống rượu, cờ bạc, không quan tâm đến gia đình. Sau đó, đến khoảng tháng 4/2015 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị N xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, gia đình không thể hàn gắn được nữa nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh A.

Về con chung: Chị N và anh A có hai con chung là Dương Thảo Ng, sinh ngày 02/7/2010 và Dương Tuấn H, sinh ngày 01/01/2012.

Chị N hiện nay đang làm nấu ăn trong Trường mầm non Tây Nguyên có thu nhập ổn định khoảng 5.000.000đồng/tháng. Cháu Ng từ trước đến nay ở với chị N và chị có nguyện vọng được nuôi con là Dương Thảo Ng. Hiện nay cháu Hưng đang ở cùng với anh A và chị N đồng ý để cho anh Dương Văn A được nuôi con là Dương Tuấn H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Dương Văn A: Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu hợp lệ nhiều lần nhưng anh A không đến Tòa án làm việc. Qua xác minh tại địa phương nơi chị N và anh A cư trú thì được biết anh A có cư trú và sinh sống tại đại phương. Tuy nhiên, anh A cố tình lẩn tránh không đến Tòa để tham gia tố tụng nên Tòa án không thể lấy lời khai của anh A được.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quan hệ pháp luật giải quyết của vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, thủ tục giải quyết và việc thu thập chứng cứ theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng từ khi khai mạc phiên tòa đến khi kết thúc phần tranh luận.

Về viêc giai quyết vu an: Đề nghi HĐXX Căn cư vào Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Đề nghi Hôi đồng xet xư tuyên: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với anh Dương Văn A.

Về con chung: Giao con chung là Dương Thảo Ng, sinh ngày 02/7/2010 cho chị Nguyễn Thị Kim N và giao con chung là Dương Tuấn H, sinh ngày 01/01/2012 cho anh Dương Văn A được trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Dương Văn A là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa; Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng, nhưng anh A đều vắng mặt. Sau khi Tòa án ra quyết định xét xử anh A là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về hôn nhân: Quan hê hôn nhân giưa chị Nguyễn Thị Kim N và anh Dương Văn A là tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk ngày 18/4/2009. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Xet về tinh trang hôn nhân cua chị N và anh A, qua trinh bay cua đương sư cũng như xác minh ở địa phương, xác định vôï choàng chung soáng không haïnh phuùc. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh A thường xuyên đi uống rượu, cờ bạc và không quan tâm chăm sóc đến gia đình. Sau đó, đến khoảng tháng 4/2015 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng và sống ly thân từ đó cho đến nay. Tại phiên toà chị N xác định tình cảm giữa chị và anh A không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Xét thấy, mâu thuẫn vơ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn cua chị N.

[3]. Về con cái: Chị N và anh A có hai con chung là Dương Thảo Ng, sinh ngày 02/7/2010 và Dương Tuấn H, sinh ngày 01/01/2012. Chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Dương Thảo Ng.

Xét về quyền lợi mọi mặt của con, cũng như nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Xét thấy, hiện cháu Ng tư trươc đến nay đang ở với chị N và cháu H đang ở với anh A, co nơi ăn ơ, sinh hoat, hoc tâp ôn đinh Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con chung là Dương Thảo Ng cho chị N và con chung Dương Tuấn H cho anh A được trực tiếp nuôi dưỡng.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6]. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 144, Điều 147, Điều 220, khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đìnhNghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nôp quản lý va sử dụng án phí và lệ phí toà án về mức thu án phí, lệ phí Tòa án”.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với anh Dương Văn A.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Dương Thảo Ng, sinh ngày 02/7/2010 cho chị Nguyễn Thị Kim N được trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung là Dương Tuấn H, sinh ngày 01/01/2012 cho anh Dương Văn A được trực tiếp nuôi dưỡng.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về Án phíi: Chị Nguyễn Thị Kim N phải chiu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đinh sơ thẩm, đươc khấu trừ vào số tiền tam ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) ma chị N đa nôp theo biên lai số AA/2017/0000317 ngay 29/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Chị N đa nôp xong tiền an phi.

4. Thông báo quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng măt tai phiên toa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

156
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2018/HNGĐ-ST ngày 11/01/2018 về ly hôn

Số hiệu:04/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 11/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về