Bản án 03/2021/HSST ngày 19/01/2021 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 03/2021/HSST NGÀY 19/01/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 361/2020/TLST-HS ngày 23-12-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 361/2021/QĐXXST-HS ngày 07-01-2021 đối với bị cáo:

Đỗ Văn H - sinh năm 1980; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số nhà 42 đường H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn N và bà Lã Thị M; bị cáo có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 31-8-2020 Công an thành phố N xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; nhân thân: Ngày 17-12- 2003 Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16-01-2006 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24 tháng 11 năm 2020 sau đó chuyển tạm giam đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Km M - sinh năm 1983; nơi cư trú: Số nhà 12/324 đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; chị M vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 29-9-2020 Đỗ Văn H đi bộ lang thang qua khu vực nhà số 116 H, phường V, thành phố N thì phát hiện chiếc xe đạp mini của chị Nguyễn Thị Km M đang để ở trên vỉa hè không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H tiến lại gần chiếc xe dùng tay trái cầm vào tay lái, tay phải cầm vào yên xe đồng thời gạt chân chống sau của xe rồi lên xe điều khiển đi tẩu thoát. Sau đó H mang chiếc xe ra khu vực đường P, thành phố N gặp một người đàn ông tên Chương (không rõ lai lịch, địa chỉ) đổi lấy ma túy mang về nhà sử dụng.

Nhận được tin báo của người bị hại, Công an phường V đã thực hiện các biện pháp điều tra ban đầu, tiến hành triệu tập đối với Đỗ Văn H. Tại Công an phường và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên. Cơ quan điều tra đã thu giữ của H 01 chiếc mũ lưỡi trai màu trắng; 01 chiếc quần lửng màu xám; 01 chiếc áo cộc tay màu vàng đậm (cổ và viền tay áo màu trắng, trên ngực trái áo có chữ Nike màu trắng) là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp. Đối với chiếc xe đạp mini Cơ quan điều tra hiện chưa thu hồi được. Sau khi làm việc Cơ quan điều tra tạm cho Đỗ Văn H về để tiếp tục củng cố hồ sơ tài liệu. Ngày 13-10-2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đỗ Văn H về hành vi “Trộm cắp tài sản” và ra lệnh bắt bị can để tạm giam, tuy nhiên H đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 19-11-2020 Cơ quan điều tra Công an thành phố N ra Quyết định truy nã số 36 đối với Đỗ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 24-11-2020 biết mình bị truy nã H đã đến Cơ quan điều tra xin đầu thú.

Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố N định giá qua hồ sơ xác định chiếc xe đạp mini có trị giá 190.000 đồng. Chị M yêu cầu H bồi thường cho chị trị giá chiếc xe trên, ngày 26-11-2020 ông Đỗ Văn Nghĩa là bố đẻ của H đã bồi thường cho chị M số tiền 200.000 đồng, chị M nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì khác.

Bản cáo trạng số 02/CT-VKSTPNĐ ngày 23-12-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Đỗ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Đỗ Văn H xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đỗ Văn H theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Chị M đã nhận bồi thường trị giá chiếc xe đạp và không có ý kiến gì nên vấn đề dân sự không đặt ra giải quyết.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Văn H có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như đơn trình báo và lời khai của bị hại; sơ đồ hiện trường; biên bản nhận dạng người qua trích xuất dữ liệu Camera cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ ngày 29-9-2020, Đỗ Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Km M chiếc xe đạp mini có trị giá 190.000 đồng tại khu vực nhà số 116 H, phường Vị, thành phố N. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham và nghiện hút bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại để cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội.

Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại có trị giá 190.000 đồng, tuy nhiên bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa hết thời hiệu nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội.

[3] Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:

[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bố đẻ bị cáo đã bồi thường chiếc xe đạp cho người bị hại; bị cáo đã đến Cơ quan điều tra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.

[4] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị Km M đã được bố đẻ bị cáo bồi thường trị giá chiếc xe và chị M không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Một chiếc mũ lưỡi trai màu trắng, một chiếc quần lửng màu xám, một chiếc áo cộc tay màu vàng đậm là tài sản của bị cáo đều đã cũ, bị cáo có quan điểm các vật chứng trên không còn giá trị sử dụng, không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Văn H bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 24 tháng 11 năm 2020.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một chiếc mũ lưỡi trai màu trắng, một chiếc quần lửng màu xám, một chiếc áo cộc tay màu vàng đậm (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 12 năm 2020).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Văn H phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là chị Nguyễn Thị Km M được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2021/HSST ngày 19/01/2021 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:03/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về