Bản án 03/2020/HS-ST ngày 21/05/2020 về tội buôn bán hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 03/2020/HS-ST NGÀY 21/05/2020 VỀ TỘI BUÔN BÁN HÀNG CẤM

Ngày 21 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2020/TLST-HS ngày 24/3/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04 2020/QĐXXST-HS ngày 29/4/2020 đối với bị cáo:

Hồ Thị T, sinh ngày 30/8/1966, tại Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: 21/33 LĐ, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn H, sinh năm 1938 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1938; có chồng là Đỗ Thúc Đ, sinh năm 1965 (đã ly hôn); có 4 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Ngày 10/10/2019, bị Công an huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá JET, ngày 20/10/2019 UBND tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2953/QĐ-UBND với mức phạt 85.000.000 đồng và phạt bổ sung 3.000.000 đồng, hiện bị cáo đã thi hành mức phạt bổ sung, chưa thi hành mức phạt 85.000.000 đồng.

Nhân thân: - Ngày 03/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt tiền với mức phạt 5.000.000 đồng, về tội “Buôn bán hàng cấm”, tại Bản án số 23/2015/HSST ngày 03/9/2015. - Ngày 22/01/2007, bị Công an thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 066992/QĐ/XPVPHC, về hành vi: Buôn bán hàng hóa nhập khẩu trái phép, hình thức phạt: Cảnh cáo.

- Ngày 29/6/2012, bị Công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 22/QĐ/XPHC, về hành vi: Kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, mức phạt tiền: 5.000.000 đồng.

- Ngày 17/9/2014, bị Công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 35/QĐ/XPVPHC, về hành vi: Kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, mức phạt tiền: 4.000.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2019 đến ngày 25/12/2019 thì được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi cư trú”, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Công Minh H, sinh năm 1985;

trú tại: 09 Đoàn Thị Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 01 giờ 30 phút ngày 16/12/2019, Hồ Thị T điều khiển xe mô tô mang BKS 75F1-241.30 (mượn của con rễ mình là Lê Công Minh H) chạy từ thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế ra thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị để mua thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET nhằm chở vào thành phố Huế bán lại kiếm lời. Khi đến khu vực chợ Đông Hà, Túy tìm và hỏi mua gom của 06 người phụ nữ (không rõ tên tuổi, địa chỉ) tổng cộng là 177 cây thuốc lá JET, tương đương 1770 bao với số tiền là 28.019.100 đồng. Sau khi mua và trả tiền xong, Túy bỏ toàn bộ số thuốc lá này lên xe mô tô rồi chở vào thành phố Huế. Khoảng 05 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến Km 780 Quốc lộ 1A, thuộc địa phận khóm 9, thị trấn Hải Lăng (nay là thị trấn Diên Sanh), huyện Hải Lăng thì bị Tổ công tác của Công an huyện Hải Lăng yêu cầu dừng phương tiện, kiểm tra, bắt quả tang và tạm giữ người, cùng toàn bộ tang vật.

Tại Bản kết luận giám định số 23/KLGĐ-PC09 ngày 23/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 1770 bao thuốc lá điếu mang nhãn hiệu JET, loại 20 điếu/bao gửi đến giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm nhãn hiệu JET, được sản xuất tại nước ngoài.

Tại Bản cáo trạng số 06/CT-VKS-HL, ngày 23/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng đã truy tố bị cáo Hồ Thị T về tội "Buôn bán hàng cấm" theo điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Sau khi công bố Cáo trạng, Căn cứ Điều 306 Bộ luật tố tụng Hình sự KSV trình bày ý kiến bổ sung: Do Luật đầu tư năm 2014 không quy định thuốc lá điếu là hàng cấm; Theo hướng dẫn tại khoản 1 Công văn số: 154/TANDTC-PC ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân tối cao và Công văn số 3031/VKSTC-V3 ngày 10/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bị cáo bị xét xử về tội Buôn bán hàng cấm trong thời điểm từ ngày 01/7/2015 đến ngày 01/01/2018 (thời điểm Luật đầu tư có hiệu lực thi hành) nên thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích. KSV rút phần tiền án của bị cáo, chuyển sang phần nhân thân, bị cáo được coi là không có tiền án. Đoạn cuối của phấn kết luận rút tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Xét thấy, ý kiến của kiểm sát viên là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Tại phần tranh luận, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm e khoản 2 Điều 32; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Thị T từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án nhưng được trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 16/12/2019 đến ngày 25/12/2019). Phạt bổ sung 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 khung gỗ kích thước 76 cm x 45 cm; 02 giỏ nhựa đan kích thước 50cm x 40cm; 01 giỏ nhựa đan kích thước 54cm x 38cm; 01 bao lác màu vàng có kích thước 100cm x 60cm; 01 bao lác màu trắng có kích thước 100cm x 60cm; 01 bao lác màu xanh có kích thước 110cm x 80cm; 1.600 bao thuốc lá nhãn hiệu JET hoàn lại sau giám định.

Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh.

Trả lại xe mô tô BKS: 75F1-241.30 cho anh Lê Công Minh H.

Tại phần tranh luận, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình rất khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Lăng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, tình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 16/12/2019, Hồ Thị T đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75F1- 241.30 của anh Lê Công Minh H chạy từ thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế ra thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị để mua thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET nhằm đưa vào thành phố Huế bán kiếm lời. Khi đến Km 780 Quốc lộ 1A, thuộc thị trấn Hải Lăng (nay là thị trấn Diên Sanh) thì bị Tổ công tác của Công an huyện Hải Lăng bắt quả tang, thu giữ 1770 bao thuốc lá điếu thành phẩm nhãn hiệu JET, được sản xuất tại nước ngoài. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà nhà nước cấm kinh doanh. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự và việc quản lý kinh tế tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình gây ra là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi nhận mà bị cáo vẫn thực hiện.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Không có [5] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo; hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn; bị cáo đang chăm sóc, nuôi dưỡng bố mẹ già trên 80 tuổi; gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp, nhưng cũng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.

[7] Về vật chứng:

- 1.600 bao thuốc lá nhãn hiệu JET hoàn lại sau giám định là hàng hóa Nhà nước cấm buôn bán nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định pháp luật.

- 01 khung gỗ kích thước 76 cm x 45 cm; 02 giỏ nhựa đan kích thước 50cm x 40cm; 01 giỏ nhựa đan kích thước 54cm x 38cm; 01 bao lác màu vàng có kích thước 100cm x 60cm; 01 bao lác màu trắng có kích thước 100cm x 60cm; 01 bao lác màu xanh có kích thước 110cm x 80cm không còn giá trị sử dụng hoặc có giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu và tiêu hủy.

- Điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với xe mô tô BKS: 75F1-241.30 là tài sản của anh Lê Công Minh H, anh H không biết bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên trả lại cho anh H là đúng với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm e khoản 2 Điều 32; Điều 46; Điều 47; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự:

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Thị T phạm tội “Buôn bán hàng cấm".

2. Xử phạt: Bị cáo Hồ Thị T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 16/12/2019 đến ngày 25/12/2019). Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy 1.600 bao thuốc lá nhãn hiệu JET hoàn lại sau giám định loại 20 điếu/bao; 01 khung gỗ kích thước 76 cm x 45 cm; 02 giỏ nhựa đan kích thước 50cm x 40cm; 01 giỏ nhựa đan kích thước 54cm x 38cm; 01 bao lác màu vàng có kích thước 100cm x 60cm; 01 bao lác màu trắng có kích thước 100cm x 60cm; 01 bao lác màu xanh có kích thước 110cm x 80cm.

Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu xanh, số Imei 357328087644195.

Trả lại cho anh Lê Công Minh H 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen-xám, BKS 75F1-241.30; số khung 245DY-027078, số máy C52E-6039573.

(Vật chứng đang tại kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Lăng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Lăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Hồ Thị T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2020/HS-ST ngày 21/05/2020 về tội buôn bán hàng cấm

Số hiệu:03/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về