Bản án 03/2020/HS-ST ngày 13/02/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 03/2020/HS-ST NGÀY 13/02/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Kim K - Sinh năm: 1968.

Nơi sinh: tỉnh Bến Tre.

Nơi cư trú: ấp L H, xã L T, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn X và bà Trần Thị Ngọc S.

Có chồng là Đoàn Hữu D và có 01 người con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 01/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 02 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại tòa.

2. Đoàn Tuấn V - Sinh năm: 1993.

Nơi sinh: tỉnh Bến Tre.

Nơi cư trú: ấp L H, xã L T, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Nghề nghiệp: Làm vườn.

Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Đoàn Văn P và bà Dương Thị H.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 02/2020/HSST- LCĐKNCT ngày 02 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Dương Tấn X - Sinh năm: 1988; nơi cư trú: ấp L H, xã L T, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (có mặt).

2. Anh Nguyễn Văn T - Sinh năm: 1964; nơi cư trú: ấp L H, xã L T, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

3. Anh Phạm Quốc N - Sinh năm: 1983; nơi cư trú: ấp L Q, xã L T, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

* Người làm chứng:

1. Anh Huỳnh Công T - Sinh năm: 1978; trú tại: ấp T P, xã S Đ, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

2. Anh Đoàn Hữu D - Sinh năm: 1965; nơi cư trú: ấp L H, xã L T, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23 tháng 12 năm 2018, ông Đoàn Hữu D trình báo sự việc Đoàn Tuấn V cùng với Huỳnh Công T đến nhà ông gây rối đòi tiền trúng số lô đề do Nguyễn Thị Kim K (vợ ông D) bán cho V. Qua làm việc, nhận thấy có dấu hiệu tội phạm “Đánh bạc’’ nên Công an xã Long Thới đã chuyển vụ việc cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Chợ Lách thụ lý để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình làm việc tất cả đã khai nhận hành vi phạm tội cụ thể như sau:

- Nguyễn Thị Kim K thừa nhận ngày 23/12/2018 có bán các lô đề của đài Kiên Giang, Tiền Giang, Đà Lạt (Lâm Đồng) và Đài Miền Bắc cho Đoàn Tuấn V với số tiền là 2.490.000đồng; Nguyễn Văn T với số tiền 90.000đồng; Dương Tấn X với số tiền là 216.000đồng; Phạm Quốc N với số tiền 343.000đồng; bán cho Thúy E (chưa xác định họ tên, lai lịch cụ thể) với số tiền 81.000đồng; bán cho Bảy B (chưa xác định họ tên, lai lịch cụ thể) với số tiền 630.000đồng. Tổng số tiền K bán các lô đề là 3.870.000đồng. Khi có kết quả xổ số, số tiền trúng thưởng của V là 3.500.000đồng, X là 420.000đồng, N là 700.000đồng và Bảy B là 1.400.000đồng, tổng số tiền trúng thưởng là 6.020.000đồng, K đã trả thưởng đầy đủ.

Do hành vi ngăn chặn sau giờ có kết quả xổ số, nên tổng số tiền mà Nguyễn Thị Kim K dùng vào việc đánh bạc là 9.870.000 đồng (gồm tiền bán số là 3.850.000đồng và tiền trúng thưởng là 6.020.000đồng).

Tuy không làm việc được với Thúy E và Bảy B, nhưng K vẫn thừa nhận có bán số đề cho hai người này, và số tiền trúng thưởng của Bảy B như nêu trên, nên vẫn tính số tiền này vào số tiền đưa vào đánh bạc của K.

Đoàn Tuấn V đã thừa nhận ngày 23/12/2018 có mua số đề do Nguyễn Thị Kim K bán đài Kiên Giang với tổng số tiền mua là 2.490.000đồng, đối chiếu với kết quả xổ số Vũ trúng được số tiền là 3.500.000đồng và đã nhận tiền trúng thưởng từ K xong. Nên số tiền V dùng vào việc đánh bạc là 5.990.000đồng (gồm tiền mua số 2.490.000đồng và tiền trúng thưởng đã nhận là 3.500.000đồng).

Tại bản cáo hạng số: 02/CT-VKSCL ngày 31/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre đã quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Kim K và Đoàn Tuấn V về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Kim K và Đoàn Tuấn V phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321 điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim K từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án heo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo 15.000.000đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321 điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Tuấn V từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo 10.000.000đồng.

Đối với hành vi của Dương Tấn X, Nguyễn Văn T, Phạm Quốc N do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên đã chuyển sang xử lý hành chính. Riêng Bảy B và Thúy E chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa tiến hành làm việc được, khi nào làm việc được sẽ tiến hành xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Chợ Lách đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Kim K: 01 ĐTDĐ hiệu Forme, số Imel 358647080237171 và một thẻ sim “Vinaphone Max sim” do không liên quan đến vụ án.

Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước:

- 01 DTE© hiệu Samsung, số Imel 354619/07/461284/6 và 01 thẻ sim do bị cáo V giao nộp;

- Số tiền 3.329.000 đồng do bị cáo K giao nộp;

- Số tiền 479.000đồng do Dương Tấn X giao nộp;

- Số tiền 24.000đồng do Nguyễn Văn T giao nộp;

- Số tiền 773.000đồng do Phạm Quốc N giao nộp.

Buộc bị cáo Đoàn Tuấn V nộp số tiền 3.685.000đồng (gồm tiền trúng thưởng đã nhận 3.500.000đồng và tiền được trừ cò là 185.000đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 tờ giấy tập học sinh có ghi những con số (phơi đề).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Lách, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là phù hợp.

Đối với việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra đã làm việc với những người này và họ không có yêu cầu gì nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, việc xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án: Với động cơ vụ lợi, mục đích thu lợi bất chính nên các bị cáo đã mua, bán số đề, cụ thể như sau:

Ngày 23 tháng 12 năm 2018 bị cáo Nguyễn Thị Kim K bán số đề và trả tiền trúng thưởng các lô đề cho bị cáo Đoàn Tuấn V và Nguyễn Văn T, Dương Tấn X, Phạm Quốc N, Thúy E và Bảy B với tổng số tiền là 9.870.000đồng (gồm tiền bán số đề là 3.850.000đồng và tiền trúng thưởng đã trao là 6.020.000đồng).

Bị cáo Đoàn Tuấn V mua số đề và trúng đề với số tiền là 5.990.000đồng (gồm tiền mua số đề là 2.490.000đồng và tiền trúng thưởng đã nhận là 3.500.000đồng).

[3] Tổng số tiền mà các bị cáo đánh bạc là trên 5.000.000đồng và dưới 50.000.000đồng, Do vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc’'’ theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm, không những xâm hại đến trật tự công cộng tại địa phương nơi các bị cáo phạm tội mà hành vi này còn là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến các loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm thì mới răn đe, giáo dục được các bị cáo và góp phần ngăn ngừa tội phạm này về sau.

Trong lượng hình Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú ổn định. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với việc các bị cáo đề nghị xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống bình thường của xã hội mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú kết hợp với gia đình giám sát, giáo dục cải tạo các bị cáo như đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội về xâm phạm trật tự công cộng. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để răn đe, giáo dục các bị cáo là phù hợp.

Đối với hành vi của những người tham gia mua số đề còn lại thì bản thân những người này chưa có tiền án, tiền sự về tội hoặc hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, số tiền mua số đề chưa đến 5.000.000đồng nên không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Chợ Lách đã chuyển sang xử phạt vi phạm hành hình chính. Riêng Bảy B và Thúy E chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa tiến hành làm việc được, khi nào làm việc được sẽ tiến hành xử lý sau.

[4] Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên được chấp nhận.

[5] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Kim K, Đoàn Tuấn V phạm tội “Đánh bạc”.

1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim K 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 13/02/2020).

Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung đối với bị cáo 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng).

1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Tuấn V 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 13/02/2020).

Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung đối với bị cáo 10.000.000đồng (mười triệu đồng).

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L T, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp trong thời gian thử thách mà các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Chợ Lách đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Kim K: 01 ĐTDĐ hiệu Forme, số Imel 358647080237171 và một thẻ sim “Vinaphone Max sim” do không liên quan đến vụ án.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

- 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, số Imel 354619/07/461284/6 và 01 thẻ sim do bị cáo Đoàn Tuấn Vũ giao nộp;

- Số tiền 3.329.000đồng do bị cáo Nguyễn Thị Kim K giao nộp;

- Số tiền 479.000đồng do Dương Tấn X giao nộp;

- Số tiền 24.000đồng do Nguyễn Văn T giao nộp;

- Số tiền 773.000đồng do Phạm Quốc N giao nộp.

Các vật chứng này đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách theo biên bản bàn giao ngày 02 tháng 01 năm 2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Chợ Lách và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách.

Buộc bị cáo Đoàn Tuấn V nộp số tiền 3.685.000đồng (gồm tiền trúng thưởng đã nhận 3.500.000đồng và tiền được trừ cò là 185.000đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 tờ giấy tập học sinh có ghi những con số (phơi đề).

3. Về án phí: Áp dụng các điều 135, 136 Bộ luật tố dụng hình sự, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2020/HS-ST ngày 13/02/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:03/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Lách - Bến Tre
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/02/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về