Bản án 03/2020/HS-ST ngày 08/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 03/2020/HS-ST NGÀY 08/01/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 624/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 648/2019/QĐXXST-HS ngày 19/12/2019 đối với bị cáo:

Trần Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1990, tại: Tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ 8, ấp 5, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Chức vụ, Đảng phái, Đoàn thể: Không; Con ông Trần Thanh H, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Hà Thị M, sinh năm 1966 (còn sống); Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 11/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 (Sáu) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 03/2012/HSST; Ngày 24/01/2013, bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 (Ba) năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 10/2013/HSST. Bị cáo bị bắt ngày 21/10/2019, chuyển tạm giam theo lệnh tạm giam số 484 ngày 29/10/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Có mặt.

* Người bị hại: Anh Trương Xuân T, sinh năm 1994.

Thường trú: Thôn B, xã N, huyện D, tỉnh Đắk Nông.

Hiện trú tại: Tổ 9, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng măt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Nguyễn Nhân A, sinh năm 1983.

Hiện trú tại: Số 6/A1, khu phố 6, phường T, thành phố B , tỉnh Đồng Nai .Vắng măt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 10 năm 2019, Trần Văn T và anh Trương Xuân T là bạn bè cùng làm công nhân xây dựng và sống chung phòng trọ tại tổ 9, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 21/10/2019, T nhìn thấy chiếc túi da của anh T đang treo trên tường nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Lợi dụng anh T đi làm trước, T đi đến lấy túi da xuống, kiểm tra bên trong thấy có số tiền 1.497.000 đồng (Một triệu, bốn trăm chín mươi bảy nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Samsung S9 Plus, model SM- G965F/DS, số Imei 355220090090429 của anh T nên T lấy và bỏ vào túi quần rồi đóng cửa phòng trọ đi đến công trình xây dựng tại tổ 9, khu phố 10, phường T, thành phố B , tỉnh Đồng Nai để làm phụ hồ. Khi đến nơi làm việc, T lấy số tiền 700.000 đồng bỏ vào túi nilon màu trắng rồi cất giấu dưới nền nhà đang xây dựng. Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày, T mang chiếc điện thoại di động nói trên đến tiệm điện thoại “Táo Vàng” do anh Trương Nguyễn Nhân A làm chủ để thuê anh A bẻ khóa với giá 250.000 đồng, còn lại số tiền 517.000 đồng thì T cất vào trong người. Sau đó, T sử dụng 30.000 đồng để mua nước uống và thuốc lá rồi quay lại công trình xây dựng để tiếp tục làm việc. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, anh T đi làm về thì phát hiện bị mất tài sản nên trình báo đến Công an phường T. Công an phường T đã làm việc với T, qua làm việc T đã khai nhận hành vi trộm cắp như đã nêu trên. Vì vậy, Công an phường T đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, xử lý theo quy định. Quá trình làm việc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo.

Vê cac vân đê khac cua vu an:

Tại bản kết luận định giá tài sản số 485/TCKH-HĐĐG ngày 24/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung S9 Plus, model SM-G965F/DS, số Imei 355220090090429 có trị giá là 9.163.000 đồng (Chín triệu, một trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền 1.467.000 đồng (Một triệu, bốn trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Samsung S9 Plus, model SM- G965F/DS, số Imei 355220090090429 là tài sản thuộc sở hữu của anh Trương Xuân T đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu hồi và trả lại cho anh T.

Về dân sự: Bị hại là anh Trương Xuân T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trương Nguyễn Nhân A không yêu cầu T phải bồi thường số tiền 250.000 đồng là tiền công bẻ khóa điện thoại di động.

Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSBH ngày 06/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điêu 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điêm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 16 (Mười sáu) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù giam.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết lỗi và rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T khai nhận: Vào khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 21/10/2019, tại phòng trọ thuộc tổ 9, khu phố 10, phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai , T đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Trương Xuân T số tiền 1.497.000 đồng (Một triệu, bốn trăm chín mươi bảy nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Samsung S9 Plus, model SM-G965F/DS, số Imei 355220090090429 có trị giá theo kết luận định giá là 9.163.000 đồng (Chín triệu, một trăm sáu mươi ba nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản T đã chiếm đoạt là 10.660.000 đồng (Mười triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngươi làm chứng . Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như nội dung bản cáo trạng số 03/CT-VKSBH ngày 06/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo là ngươi trưởng thành, có nhận thức, có khả năng lao động nuôi sống bản thân, đã 02 lần bị Tòa án đưa ra xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Cố ý gây thương tích” nhưng bị cáo không chiu lấy đó làm bài học, tìm việc làm chính đáng mà lại đi vào con đường tiếp tục phạm tội để có tiền tiêu xài. Vì vậy, cần thiết xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc nhằm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng: không co;

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình phạt đối với bị cáo, xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại và được bị hại làm đơn xin bãi nại. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sưa đôi bô sung năm 2017 thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu chứng cứ và lời khai tại phiên tòa của bị cáo cho thấy bị cáo không có thu nhập và không có tài sản nào khác. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Trương Xuân T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trương Nguyễn Nhân A không yêu cầu T phải bồi thường số tiền 250.000 đồng là tiền công bẻ khóa điện thoại di động nên không đặt ra xem xét.

[5] Vê xư ly vât chưng : Đối với số tiền 1.467.000 đồng (Một triệu, bốn trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Samsung S9 Plus, model SM-G965F/DS, số Imei 355220090090429 là tài sản thuộc sở hữu của anh Trương Xuân T đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu hồi và trả lại cho anh T là phù hợp.

[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điêm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Văn T: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù đươc tính từ ngày 21/10/2019.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vắng măt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2020/HS-ST ngày 08/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:03/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 08/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về