Bản án 03/2020/HS-PT ngày 19/02/2020 về tội bắt, giữ người trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 03/2020/HS-PT NGÀY 19/02/2020 VỀ TỘI BẮT, GIỮ NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

Ngày 19 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 102/2019/TLPT- HS, ngày 05 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Bùi Thị Hồng N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 114/2019/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Thị Hồng N (Đ), sinh năm 1982, nơi sinh tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện nay: 2C/15B, khu phố B, phường B, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Phương T và bà Huỳnh Ngọc L; chồng: Không rõ; có 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2018, trong thời gian cùng làm việc tại lò Đ của ông Nguyễn Văn Nùng, bị cáo Bùi Thị Hồng N có quen biết với Mai Thị L (tên gọi khác: K), bị cáo N đã cho L vay số tiền tổng cộng là 25.000.000 đồng và phải trả lãi theo ngày. Đến tháng 8/2018, bị cáo N chuyển về Bình Dương sinh sống. Tháng 12/2018, bị cáo N nhiều lần liên lạc yêu cầu L trả nợ cho bị cáo nhưng L vẫn không trả (tại thời điểm này số tiền gốc L còn nợ bị cáo là 12.000.000 đồng).

Khoảng 13 giờ ngày 15/12/2018, bị cáo N rủ Huỳnh Thị Cẩm T (tên gọi khác: V) và nhờ T thuê xe ô tô ra Phan Thiết gặp L để lấy tiền thì T đồng ý. T thuê 01 xe ô tô 07 chỗ biển số 61A-146.47 của một người quen để chở T và bị cáo từ Bình Dương ra Phan Thiết (xe do tài xế Nguyễn Tuấn L điều khiển). Trên đường đi, bị cáo N gọi điện thoại cho một người tên thường gọi Cu Tin (không rõ nhân thân) rủ đi chung nhưng do Cu Tin bận việc riêng nên đã nhờ 02 người quen gồm: Lý Văn T và Nguyễn Thành K đi chung với bị cáo. Sau khi đón T và K tại các địa điểm do Cu Tin cung cấp, xe ô tô tiếp tục chở bị cáo và các đối tượng đi về hướng thành phố Phan Thiết. Trong suốt quá trình đi trên xe, bị cáo không nói gì về việc đến Phan Thiết bắt giữ L trả nợ, và cả nhóm cũng không có sự bàn bạc, thống nhất gì về vấn đề trên.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, xe ô tô do Lộc điều khiển chở bị cáo và các đối tượng đi trên đường Trường Chinh dừng lại trước quán cà phê của ông Nguyễn Văn C (tên thường gọi: Chín Mốc) thuộc thôn X, xã P, thành phố Phan Thiết (Bị cáo N khai do trước đây ông Nùng có dọa nếu thấy bị cáo đến Phan Thiết sẽ đánh nên bị cáo không đến lò đào ông Nùng mà dừng xe ở quán của ông Chín Mốc - gần lò đào ông Nùng). Lúc này, bị cáo nói Toàn và K vào quán ông Chín Mốc để tìm L ra nói chuyện nhưng không gặp L. Khoảng 20 phút sau, trong lúc đang ngồi đợi trên xe ô tô, bị cáo N nhìn thấy L đi bộ từ bên kia đường sang quán Chín Mốc nên đã nói tài xế L gọi L đến để bị cáo N nói chuyện. Khi L vừa đến gần cửa xe thì bị cáo N xuống xe túm tóc, vịn vai, kéo L đưa lên xe. Sau đó, bị cáo N nói tài xế L điều khiển xe ô tô chở mọi người đi theo đường Trường Chinh (Quốc lộ 1A) chạy về hướng thành phố Hồ Chí Minh để về Bình Dương. Sau khi lên xe, T ngồi ở ghế phụ cạnh tài xế L, còn bị cáo N, L, T và K ngồi ở băng ghế phía sau (Bị cáo ngồi sau T, L ngồi giữa T và K). Do L vùng vẫy chống cự nên bị cáo N nói T và K giữ hai tay L lại, rồi bị cáo N dùng tay đánh nhiều cái vào mặt L để hỏi L về số tiền nợ thì L nói không có khả năng trả.

Việc Mai Thị L bị bắt giữ đưa lên xe ô tô biển số 61A-146.47 đã được một số người dân nhìn thấy và đến Công an trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận tin báo từ quần chúng nhân dân, qua công tác nắm tình hình, Lực lượng công an đã phát hiện chiếc xe ô tô trên khi xe đi qua Trạm thu phí Hàm Thuận Nam, do đó đã yêu cầu dừng xe và đưa toàn bộ những người có liên quan về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 114/2019/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Hồng N phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị Hồng N 12 tháng (Mười hai tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Thuận, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tiếp tục làm rõ để xử lý theo pháp luật về hành vi của Huỳnh Thị Cẩm T, Lý Văn T, Nguyễn Thành K và Nguyễn Tuấn L; tuyên các quyết định khác về án phí và thông báo quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng biết.

Ngày 24 tháng 9 năm 2019, bị cáo Bùi Thị Hồng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Tại giai đoạn sơ thẩm đều thể hiện bị cáo N sinh ngày 24/12/1982, nhưng sau khi xét xử sơ thẩm xong thì bị cáo N cung cấp giấy tờ nhân thân thể hiện bị cáo sinh ngày 01/01/1984, như vậy có sự khác biệt về ngày tháng năm sinh của bị cáo, đây là sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm để làm rõ, tránh oan sai.

- Ý kiến của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Do muốn đòi nợ của Mai Thị L nên khoảng 22 giờ ngày 15/12/2018, bị cáo N thuê 01 xe ô tô 07 chỗ biển số 61A-146.47 do tài xế Nguyễn Tuấn L điều khiển, cùng với Huỳnh Thị Cẩm T, Lý Văn T, Nguyễn Thành K từ Bình Dương ra Phan Thiết tìm L. Khi đến quán cà phê của ông Nguyễn Văn C thuộc thôn Xuân Phong, xã Phong Nẫm, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận thì phát hiện ra L nên bị cáo N xuống xe túm tóc, vịn vai, kéo L đưa lên xe rồi bị cáo N yêu cầu tài xế điều khiển xe chạy về Bình Dương. Khi ở trên xe, L vùng vẫy chống cự nên bị cáo N dùng tay đánh nhiều cái vào mặt L và hỏi L về số tiền nợ. Khi đến Trạm thu phí Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận thì bị lực lượng công an yêu cầu dừng xe và đưa toàn bộ những người có liên quan về trụ sở làm việc.

Với hành vi đó, bị cáo N đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự.

[2] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Qua các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện tại lý lịch bị can (bút lục số 36), danh chỉ bản (bút lục số 154-155), bản tự khai (bút lục số 61-64), giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ khi được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú đều thể hiện bị cáo Bùi Thị Hồng N, sinh ngày 24/12/1982, có nơi cư trú ở ấp P, xã A, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Bùi Thị Hồng N làm đơn kháng cáo kèm theo đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn đều ghi bị cáo N sinh năm 1984. Ngoài ra, bị cáo còn cung cấp bản sao y có chứng thực giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân số 365587261 thể hiện bị cáo Bùi Thị Hồng N, sinh ngày 01/01/1984, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ở ấp P, xã A, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Vậy thực chất bị cáo Bùi Thị Hồng N sinh ngày tháng năm nào? Lý do vì sao bị cáo cung cấp giấy tờ nhân thân thể hiện bị cáo N sinh ngày 01/01/1984 nhưng tại cấp sơ thẩm đều ghi bị cáo N sinh ngày 24/12/1982? Bị cáo N tham gia tố tụng từ giai đoạn điều tra đến khi xét xử sơ thẩm có phải cùng một người hay không? Do giấy tờ nhân thân bị cáo Bùi Thị Hồng N có ngày, tháng, năm sinh khác với toàn bộ ngày, tháng, năm sinh của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, cho nên cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, cũng như đảm bảo việc thi hành án sau này.

[3] Do việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

Vì các lẽ trên, Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Điểm f khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 114/2019/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết để điều tra lại;

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết để giải quyết theo thủ tục chung.

Bị cáo Bùi Thị Hồng N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (19/02/2020).


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2020/HS-PT ngày 19/02/2020 về tội bắt, giữ người trái pháp luật

Số hiệu:03/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/02/2020
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về