Bản án 03/2020/HNGĐ-ST ngày 22/01/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 03/2020/HNGĐ-ST NGÀY 22/01/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 22 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 684/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh D; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 13 gác 2 H, phường A, quận L, thành phố H; chỗ ở hiện nay: Số 6B/99 T, phường K, quận L, thành phố H; có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Đức K; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 13 gác 2 H, phường A, quận L, thành phố H; chỗ ở hiện nay: Số 6B/99 T, phường K, quận L, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 29 tháng 11 năm 2019 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Trần Thị Thanh D trình bày:

Chị Trần Thị Thanh D và anh Phạm Đức K kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 2006, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức hỏi cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận N, thành phố H vào ngày 18/8/2006. Đến nay có hai con chung.

Quá trình chung sống: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Hai bên gia đình đã khuyên giải và bản thân chị D cũng cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Từ tháng 10 năm 2019 đến nay hai bên đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, chị Trần Thị Thanh D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Phạm Đức K.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phạm Thị Quỳnh A, sinh ngày 03/10/2006 và Phạm Quý P, sinh ngày 18/7/2012. Chị Trần Thị Thanh D đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa anh K vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, anh K trình bày:

Anh nhất trí với trình bày của chị D về điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn dến xảy ra tranh cãi bất hòa. Vợ chồng đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn, gia đình và bạn bè cũng đã khuyên giải nhưng không được. Hai bên đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2019 đến nay, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt. Nay chị D xin ly hôn, anh đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.

Về con chung: Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, anh K có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến khi các con thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc với đại diện gia đình anh K xác định mâu thuẫn giữa chị D và anh K là trầm trọng. Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, cách sống, không còn tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2019 đến nay.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục về pháp luật tố tụng tại phiên tòa; nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định về pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Chị Trần Thị Thanh D và anh Phạm Đức K kết hôn từ năm 2006 và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận N, thành phố H vào ngày 18/8/2006 nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm sống, cách sống nên vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị D ly hôn anh K theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị D và anh K có hai con chung là Phạm Thị Quỳnh A, sinh ngày 03/10/2006 và Phạm Quý P, sinh ngày 18/7/2012. Cả hai con chung đều có nguyện vọng được ở với anh K, đồng thời các bên đã thỏa thuận giao cả hai con cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi; việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét yêu cầu trên là phù hợp, cần chấp nhận.

Về tài sản chung: Các đương sự không có yêu cầu về tài sản chung nên không xem xét.

Về án phí: Chị Trần Thị Thanh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; theo đơn khởi kiện, trình bày của đương sự thể hiện: Anh Phạm Đức K có nơi cư trú tại: Số 6B/99 T, phường K, quận L, thành phố H. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa nguyên đơn là chị Trần Thị Thanh D và bị đơn là anh Phạm Đức K thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, bị đơn là anh Phạm Đức K vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Đức K.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh D và anh Phạm Đức K kết hôn từ năm 2006 và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận N, thành phố H vào ngày 18/8/2006 nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

[4] Quá trình chung sống: Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu đến đầu năm 2019 nảy sinh mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống, cách sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên hai bên thường xuyên xảy ra bất hòa, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Mặc dù hai bên gia đình nhiều lần khuyên giải nhưng vợ chồng không hòa giải được. Từ tháng 10 năm 2019 đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai về mọi mặt. Quá trình giải quyết vụ án, anh K cũng khẳng định giữa vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn không thể khắc phục, tình cảm vợ chồng đến nay không còn nên chị D xin ly hôn anh đồng ý. Qua xác minh tại gia đình, nơi cư trú của chị D và anh K cho thấy mâu thuân vợ chồng đã trầm trọng, quan hệ vợ chồng trên thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Bởi vậy chị D yêu cầu được ly hôn anh K là phù hợp với thực tế, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về con chung: Chị D và anh K có hai con chung là Phạm Thị Quỳnh A, sinh ngày 03/10/2006 và Phạm Quý P, sinh ngày 18/7/2012. Quá trình giải quyết vụ án hai bên đã thỏa thuận được cũng như tại phiên tòa hôm nay chị D giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết giao cả hai con cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyện vọng của các bên là phù hợp với thực tế, phù hợp nguyện vọng của các con và quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[6] Về tài sản chung: Chị D và anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí: Chị D phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thanh D được ly hôn anh Phạm Đức K.

- Về con chung: Giao cả hai con là Phạm Thị Quỳnh A, sinh ngày 03/10/2006 và Phạm Quý P, sinh ngày 18/7/2012 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Trần Thị Thanh D phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị D đã nộp đủ số tiền án phí là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013681 ngày 25 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


86
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2020/HNGĐ-ST ngày 22/01/2020 về ly hôn

Số hiệu:03/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 22/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về