Bản án 03/2020/HNGĐ-ST ngày 16/06/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 03/2020/HNGĐ-ST NGÀY 16/06/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Trần Thị N – sinh năm 1976; NKTT: thôn H, xã H1, thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên, có mặt.

2. Bị đơn: ông Châu Ngọc A – sinh năm 1971; NKTT: thôn H, xã H1, thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 16 tháng 4 năm 2020, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:

Bà và ông Châu Ngọc A kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 1995, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H1, huyện Đông Hoà (nay là thị xã Đông Hoà) vào ngày 20/11/1995. Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vì cả hai bất đồng quan điểm, khác biệt về suy nghĩ và cách sống nên thường xuyên tranh cãi, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không hoà hợp. Bà đã nhiều lần nộp đơn ra toà yêu cầu ly hôn nhưng qua hoà giải, vì muốn cố gắng điều chỉnh để hàn gắn mâu thuẫn, cùng nhau nuôi dạy con cái nên bà đã rút đơn. Tuy nhiên đến nay, ông A vẫn không thay đổi, thường xuyên rượu bia không chăm lo cho gia đình, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: vợ chồng bà có hai con chung là Châu Hoàng H3, sinh ngày 18/8/1996 và Châu Hoàng K, sinh ngày 15/8/2003. Hiện nay cháu H3 đã đủ tuổi trưởng thành, cháu K do bà chăm sóc từ nhỏ. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Châu Ngọc A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, do đó Toà án nhân dân thị xã Đông Hoà không tiến hành hoà giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Theo đơn khởi kiện, lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: ông Châu Ngọc A đăng ký NKTT tại thôn H, xã H1, thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên, do đó vụ án ly hôn giữa nguyên đơn bà Trần Thị N và bị đơn ông Châu Ngọc A thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên theo các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn đã được tống đạt các Thông báo hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Châu NgọcA theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị N và ông Châu Ngọc A kết hôn năm 1995, được Ủy ban nhân dân xã H2, huyện Đông Hoà (cũ) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 01/1995, quyển số 018 vào ngày 20/11/1995 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến nay đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà N đã nộp đơn ly hôn đến Toà án nhiều lần, mặc dù đã tự nguyện rút đơn để vợ chồng điều chỉnh, hàn gắn mâu thuẫn nhưng cuộc sống chung vẫn không hạnh phúc. Toà án triệu tập ông A nhiều lần để hai bên có điều kiện hoà giải nhưng ông không đến toà, không thể hiện thiện chí muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với bà N. Nhận thấy yêu cầu ly hôn của bà N là phù hợp với thực tế, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: bà N và ông A có 02 con chung tên Châu Hoàng H3, sinh ngày 18/8/1996 và Châu Hoàng K, sinh ngày 15/8/2003. Xét yêu cầu của bà N phù hợp với nguyện vọng của cháu K tại văn bản đề ngày 19/5/2020 nên cần giao bà N trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông A không cấp dưỡng nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con. Riêng con chung là Châu Hoàng H3, sinh ngày 18/8/1996 đã đủ tuổi trưởng thành, đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: bà N có mặt không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí: bà N phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự:

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị N được ly hôn với ông Châu Ngọc A.

2. Về con chung: Giao cho bà Trần Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Châu Hoàng K, sinh ngày 15/8/2003. Ông Châu Ngọc A không cấp dưỡng nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con.

3. Về tài sản chung: không giải quyết.

4. Về án phí: bà Trần Thị N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0003386 ngày 16 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện (nay là thị xã) Đông Hoà.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


83
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2020/HNGĐ-ST ngày 16/06/2020 về ly hôn

Số hiệu:03/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đông Hòa - Phú Yên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:16/06/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về