Bản án 03/2020/DS-ST ngày 17/01/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 03/2020/DS-ST NGÀY 17/01/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 17 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 28/2019/TLST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/QĐXXST-DS ngày 17/12/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-DS, ngày 07/01/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nn hàng Thương mại cổ phần B (LVPostBank). Địa chỉ trụ sở chính: Tòa nhà C T, số 1xx THĐ, phường C, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S - Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức C – Chuyên viên khách hàng Ngân hàng TMCP B Phòng giao dịch huyện L (Theo quyết định số 66xx/2017/QĐ-TGĐ, ngày 20/6/2017 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP B và văn bản ủy quyền ngày 15/12/2019 của Giám đốc Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Hòa Bình). Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Đỗ Thị T, sinh năm 1975. Đa chỉ: Xóm M, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1969. Địa chỉ: Xóm M, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, đại diện nguyên đơn trình bày: Bà Đỗ Thị T có ký kết với Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Hòa Bình hai hợp đồng tín dụng; hợp đồng số 2017B/HĐTD.LBP-HB ngày 26/9/2015 và hợp đồng số HDTD2002017887 ngày 26/10/2017. Cả hai hợp đồng đều cho vay tín chấp và mức lãi được điều chỉnh định kỳ của bên ngân hàng cho vay. Hợp đồng tín dụng số 2017B/HĐTD.LBP-HB ngày 26/9/2015, Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Hòa Bình cho bà Đỗ Thị T vay khoản tiền gốc là 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng. Phương thức vay từng lần. Thời hạn vay 60 tháng. Mục đích vay để mua sắm tài sản. Bà T phải trả tiền gốc và lãi hàng tháng theo kỳ cho ngân hàng. Bà T thực hiện việc trả nợ đến tháng 6 năm 2018 thì không tiếp tục thực hiện trả nợ. Hiện bà T mới trả được cho ngân hàng theo hợp đồng này là 53.120.214 (Năm mươi ba triệu, một trăm hai mươi nghìn, hai trăm mười bốn) đồng gốc và 28.687.766 (Hai mươi tám triệu, sáu trăm tám bảy nghìn, bảy trăm sáu mươi sáu) đồng lãi; số nợ gốc còn 46.879.786 (Bốn mươi sáu triệu, tám trăm bảy mươi chín nghìn, bảy trăm tám mươi sáu) đồng và 13.049.199 (Mười ba triệu, không trăm bốn mươi chín nghìn, một trăm chín mươi chín) đồng tiền lãi. Hợp đồng số HDTD2002017887 ngày 26/10/2017, ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Hòa Bình tiếp tục cho bà Đỗ Thị T vay số tiền 39.000.000 (Ba mươi chín triệu) đồng với thời hạn 12 tháng. Mục đích vay cũng để mua sắm tài sản. Tiền gốc trả vào cuối kỳ, tiền lãi trả hàng tháng. Bà T cũng mới chỉ trả lãi đến tháng 6 năm 2018 và còn nợ 9.609.408 (Chín triệu, sáu trăm linh chín nghìn, bốn trăm linh tám) đồng tiền lãi. Tổng cộng đến thời điểm khởi kiện, bà Đỗ Thị T còn nợ Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Hòa Bình theo hai hợp đồng tín dụng nêu trên tổng số tiền là 108.538.393 (Một trăm linh tám triệu, năm trăm ba tám nghìn, ba trăm chín mươi ba) đồng. Khoản nợ này bị chuyển thành nợ quá hạn từ tháng 7 năm 2018. Phía ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc bà Đỗ Thị T trả nợ nhưng bà T không thực hiện nên khởi kiện yêu cầu bà Đỗ Thị T thực hiện nghĩa vụ trả nợ khoản tiền vay nêu trên.

Phía bị đơn là bà Đỗ Thị T thừa nhận các giao dịch tín dụng trên và quá trình trả nợ đúng như phía nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên, do thời gian qua, bà và gia đình làm ăn thua lỗ nên không có đủ tiền trả nợ bên nguyên đơn. Hơn nữa, khi vay tiền theo hợp đồng số 2017B/HĐTD.LBP-HB ngày 26/9/2015 còn có ông Nguyễn Văn S khi đó là chồng bà (hiện đã ly hôn năm 2019) tham gia ký kết hợp đồng với tư cách là người đồng trách nhiệm trả nợ. Do vậy, đối với khoản vay này bà Đỗ Thị T đề nghị ông Nguyễn Văn S cũng phải có trách nhiệm trả nợ cùng bà.

Phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn S trình bày: ông có được tham gia vay vốn cùng bà T theo hợp đồng số 2017B/HĐTD.LBP-HB ngày 26/9/2015 để kinh doanh và mua sắm gia đình nhưng do làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản. Bản thân ông S là lao động tự do nên chưa có điều kiện trả nợ chung. Do đó, ông S chưa đồng ý với yêu cầu của bà Đỗ Thị T.

Tại phiên tòa, phía nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu của mình và tính đến ngày xét xử khoản tiền lãi của hợp đồng số 2017B/HĐTD.LBP-HB ngày 26/9/2015 là 14.332.372 (Mười bốn triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm bảy mươi hai) đồng; tổng nợ của hợp đồng này là 61.212.158 (Sáu mươi mốt triệu, hai trăm mười hai nghìn, một trăm năm mươi tám) đồng. Khoản lãi của hợp đồng số HDTD2002017887 ngày 26/10/2017 là 10.837.861 (Mười triệu, tám trăm ba mươi bảy nghìn, tám trăm sáu mươi mốt) đồng, tổng nợ của hợp đồng này là 49.837.861 (Bốn mươi chín triệu, tám trăm ba mươi bảy nghìn, tám trăm sáu mươi mốt) đồng. Tổng cộng, bà Đỗ Thị T còn nợ phía nguyên đơn theo hai hợp đồng tín dụng nêu trên là 111.050.019 (Một trăm mười một triệu, không trăm năm mươi nghìn, không trăm mười chín) đồng.

Phía đại diện Viện kiểm sát nhận định về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với các đương sự đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung vụ án: thấy rằng hợp đồng các hợp đồng tín dụng ký kết giữa Ngân hàng TMCP B và bà Đỗ Thị T đều rất rõ ràng, tự nguyện. Vì thế, bà Đỗ Thị T do vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên cần buộc bà Đỗ Thị T thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả tiền cho phía Ngân hàng. Đối với hợp đồng tín dụng số 2017B/HĐTD.LBP-HB ngày 26/9/2015 còn có sự tham gia ký kết và chịu trách nhiệm trả nợ của ông Nguyễn Văn S. Do vậy, cần buộc ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ liên đới trả nợ với bà T cho phía Ngân hàng theo hợp đồng này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là Tranh chấp hợp đồng tín dụng vì bà Đỗ Thị T vay tiền với mục đích mua sắm tài sản. Các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nên Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về pháp luật áp dụng: Hợp đồng số 2017B/HĐTD.LBP-HB được ký kết ngày 26/9/2015. Hợp đồng hiện chưa được thực hiện xong và nội dung, hình thức phù hợp các quy định của Bộ luật dân sự 2015 (Có hiệu lực từ ngày 01/01/2017) nên được áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự 2015.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Phía nguyên đơn là Ngân hàng TMCP B có ký kết với bà Đỗ Thị T 02 hợp đồng tín dụng là hợp đồng số 2017B/HĐTD.LBP-HB ngày 26/9/2015 và hợp đồng số HDTD2002017887 ngày 26/10/2017. Xét cả hai hợp đồng đều có hình thức, nội dung phù hợp các quy định tại Điều 119, Điều 398 của Bộ luật dân sự 2015. Việc giao kết hợp đồng là tự nguyện, không vi phạm các quy định từ Điều 123 đến Điều 130, Điều 408 của Bộ luật dân sự 2015. Theo hợp đồng số 2017B/HĐTD.LBP-HB ngày 26/9/2015, bà Đỗ Thị T có nghĩa vụ thanh toán trả cho phía ngân hàng tiền gốc và tiền lãi phát sinh hàng tháng. Trong hợp đồng này, có sự tham gia của ông Nguyễn Văn S với trách nhiệm là người đồng trách nhiệm trả nợ. Bản thân ông S cũng xác nhận khoản vay này là vay cho gia đình (trong thời kỳ hôn nhân với bà T). Khi ly hôn, giữa ông S và bà T (ngày 22/3/2019), phần nghĩa vụ này chưa được phân chia nên ông Nguyễn Văn S cũng phải chịu trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ với bà Đỗ Thị T. Theo hợp đồng số HDTD2002017887 ngày 26/10/2017, bà Đỗ Thị T phải trả cho phía ngân hàng tiền lãi hàng tháng và tiền gốc đến cuối kỳ vay là ngày 26/10/2018. Tuy nhiên, bà T không thực hiện đúng thỏa thuận theo hợp đồng; tháng 7 năm 2017 bà T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Số nợ bị chuyển thành nợ quá hạn nhưng phù hợp các quy định tại Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Bà Đỗ Thị T cũng thừa nhận các khoản vay và chấp nhận các khoản tiền lãi. Tính đến ngày xét xử, bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Văn S còn nợ phía ngân hàng TMCP B tiền gốc 46.879.786 (Bốn mươi sáu triệu, tám trăm bảy mươi chín nghìn, bảy trăm tám mươi sáu) đồng và 14.332.372 (Mười bốn triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm bảy mươi hai) đồng tiền lãi, cộng là 61.212.158 (Sáu mươi mốt triệu, hai trăm mười hai nghìn, một trăm năm mươi tám) đồng theo hợp đồng số 2017B/HĐTD.LBP-HB ngày 26/9/2015; bà Đỗ Thị T còn nợ 39.000.000 đồng tiền gốc và 10.837.861 (Mười triệu, tám trăm ba mươi bảy nghìn, tám trăm sáu mươi mốt) đồng tiền lãi theo hợp đồng số HDTD2002017887 ngày 26/10/2017, cộng là 49.837.861 (Bốn mươi chín triệu, tám trăm ba mươi bảy nghìn, tám trăm sáu mươi mốt) đồng. Lãi và mức lãi suất được tính đúng theo hợp đồng và các quy định của Luật các Tổ chức tín dụng. Mặt khác, bà Đỗ Thị T cũng đã thừa nhận khoản nợ gốc và chấp nhận các khoản tiền tiền lãi bên nguyên đơn yêu cầu. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn; buộc bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả 61.212.158 (Sáu mươi mốt triệu, hai trăm mười hai nghìn, một trăm năm mươi tám) đồng cả gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Hòa Bình theo hợp đồng số 2017B/HĐTD.LBP-HB ngày 26/9/2015; buộc bà Đỗ Thị T có nghĩa vụ thanh toán trả 49.837.861 (Bốn mươi chín triệu, tám trăm ba mươi bảy nghìn, tám trăm sáu mươi mốt) đồng cả gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Hòa Bình theo hợp đồng số HDTD2002017887 ngày 26/10/2017. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Văn S còn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa trả theo Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA, ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[3] Về án phí, chi phí tố tụng: Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 275, Điều 280, 288, 463 và 466 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA, ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP B; buộc bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Hòa Bình số tiền 61.212.158 (Sáu mươi mốt triệu, hai trăm mười hai nghìn, một trăm năm mươi tám) đồng cả gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số 2017B/HĐTD.LBP-HB ngày 26/9/2015; bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Văn S mỗi người có nghĩa vụ thanh toán trả số tiền là 30.606.079 (Ba mươi triệu, sáu trăm linh sáu nghìn, không trăm bảy mươi chín) đồng. Buộc bà Đỗ Thị T có nghĩa vụ thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Hòa Bình số tiền 49.837.861 (Bốn mươi chín triệu, tám trăm ba mươi bảy nghìn, tám trăm sáu mươi mốt) đồng cả gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số HDTD2002017887 ngày 26/10/2017.

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Đỗ Thị T, ông Nguyễn Văn S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP B thì lãi suất mà bà Đỗ Thị T, ông Nguyễn Văn S phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Hòa Bình theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP B.

3. Án phí: Bà Đỗ Thị T phải chịu 4.022.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn S phải chịu 1.530.300 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP B được nhận lại 2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002768, ngày 31/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn.

4. Quyền kháng cáo: Đại diện nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhân được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


21
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về