Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 15/01/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 03/2018/HNGĐ-ST NGÀY 15/01/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 15/01/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 530/2017/HNGĐ-ST ngày 01/11/2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2017/QĐXX ngày 17/12/2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2017/QĐST-DS ngày 26/12/2017 giữa:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Cẩm T, sinh năm 1989; Trú tại: Tổ 1, thị trấn Đ, huyện D, thành phố Hà Nội

Bị đơn: Anh Hoàng Chiến H, sinh năm 1983; Nơi ĐKNKTT, nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã L, huyện D, thành phố Hà Nội (anh H đang bị tuyên bố mất tích theo quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2017/QĐST ngày 03/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Hà Nội).

Có mặt: Chị T

Vắng mặt: Anh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/10/2017 và các lời khai bổ sung, nguyên đơn chị Vũ Thị Cẩm T trình bày:

Chị kết với anh Hoàng Chiến H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L ngày 16/10/2010. Sau khi cưới vợ chồng chị về sinh sống cùng gia đình nhà chồng một thời gian ngắn, chị cũng chưa chuyển khẩu về nhà chồng. Do hoàn cảnh gia đình nên chị về ở với bố mẹ chị tại Tổ 1, thị trấn Đ. Tháng 6/2013 không hiểu vì lý do gì mà anh H đã bỏ nhà đi, chị cùng với gia đình nhà chồng đã tìm kiếm, đăng thông tin trên báo nhưng vẫn không có tin tức gì. Năm 2017 chị đã làm yêu cầu Tòa án nhân dân huyện D tuyên bố anh H mất tích, nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H để ổn định cuộc sống riêng.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Hoàng Quốc T1, sinh ngày 16/11/2011, cháu T1 hiện nay đang ở với chị; Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, chị đang làm việc tại Bệnh viện đa khoa D, thu nhập bình quân khoảng 6.000.000đ/tháng.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D phát biểu ý kiến: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo trình tự mà pháp luật quy định. Đối với nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà hôm nay đã chấp hành tốt pháp luật không phải nhắc nhở, kiến nghị gì.

Về nội dung: Xét thấy việc chi T xin ly hôn anh H là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận; Về con đề nghị Tòa án giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, do anh H đã mất tích nên tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho đến khi các bên có đơn yêu cầu hoặc khi có quyết định khác của Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Tòa án thụ lý vụ án “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Anh Hoàng Chiến H đã bỏ đi biệt tích và hiện đang bị tuyên bố mất tích theo quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2017/QĐST ngày 03/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện D, thành phố Hà Nội. Tòa án đã hai lần niêm yết “Giấy triệu đến phiên tòa” tại nơi cư trú cuối cùng đối với anh H nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì vì vậy cần đưa vụ án ra xét xử và niêm yết bản án đối với anh H theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Cẩm T kết với anh Hoàng Chiến H ngày 16/10/2010 có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện D, thành phố Hà Nội là hôn nhân hợp pháp. Qua quá trình xác minh và lời khai của chị T xác định anh H đã bỏ đi thời gian dài không có tin tức gì, việc chị T xin ly hôn anh H là có căn cứ nên được chấp nhận.

- Về con chung: Vợ chồng chị T, anh H có 01 con chung là Hoàng Quốc T1, sinh ngày 16/11/2011. Xét thấy hiện cháu đang ăn ở sinh hoạt ổn định với chị T, chị T làm việc tại bệnh viện Đa khoa huyện D có thu nhập ổn định do vậy cần giao chị T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.

- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[4] Về án phí LHST: Chị T phải nộp 300.000đ để sung ngân sách Nhà nước.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 1 Điều 28, 48,147, 271 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Vũ Thị Cẩm T đối với anh Hoàng Chiến H. Chị Vũ Thị Cẩm T được ly hôn anh Hoàng Chiến H; Quan hệ hôn nhân của hai bên chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con: Giao cho Vũ Thị Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hoàng Quốc T1, sinh ngày 16/11/2011 cho đến khi cháu T1 thành niên hoặc khi có quyết định khác của Tòa án.

3. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí LHST: Chị T phải nộp: 300.000đ để sung vào Ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số AB/2015/0000900 ngày 27/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện D.

5. Án xử sơ thẩm công khai, chị T quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng.


126
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 15/01/2018 về ly hôn

Số hiệu:03/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Anh - Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 15/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về