Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 11/01/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 03/2018/HNGĐ-ST NGÀY 11/01/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 11/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 837/2017/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2017 về tranh chấp: “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đoàn Bá S, sinh năm 1992; Địa chỉ: Đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Có mặt).

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1993;  Địa chỉ: Đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 22/8/2017, trong qua trinh giai quyết vu an và tại phiên tòa anh Đoàn Bá S trình bày:

Về hôn nhân: Anh Đoàn Bá S và chị Nguyễn Thị Mỹ H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk ngày 07/01/2015.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, cho đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên dẫn đến thường xuyên vợ chồng xảy ra cãi vã nhau. Vợ chồng đã cố gắng khắc phục nhưng hạnh phúc gia đình vẫn không thể hàn gắn được. Sau đó, đến khoảng tháng 6/2016 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh S xác định không còn tình cảm với chị H nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh S và chị H có 01 con chung là Đoàn Phi V, sinh ngày 24/5/2015 và anh S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cháu V từ trước đến nay ở với anh S tại đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk và anh S hiện đang làm việc tại khu du lịch Buôn Kô Tam, thành phố B có thu nhập ổn định trung bình hằng tháng khoảng 4.000.000đồng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H: Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu hợp lệ nhiều lần nhưng chị H không đến Tòa án làm việc. Qua xác minh tại địa phương nơi chị H cư trú thì được biết chị H vẫn cư trú và sinh sống tại đại phương. Tuy nhiên, chị H không đến Tòa để tham gia tố tụng nên Tòa án không thể lấy lời khai của chị H được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Mỹ H là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa; Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng, nhưng chị H đều vắng mặt. Sau khi Tòa án ra quyết định xét xử chị H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về hôn nhân: Quan hê hôn nhân giưa anh Đoàn Bá S và chị Nguyễn Thị Mỹ H là tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk ngày 07/01/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Xet về tinh trang hôn nhân cua anh S và chị H, qua trinh bay cua đương sư cũng như xác minh ở địa phương, thì vôï choàng chung soáng không haïnh phuùc. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên dẫn đến thường xuyên vợ chồng xảy ra cãi vã nhau. Vợ chồng đã khắc phục nhưng hạnh phúc gia đình vẫn không thể hàn gắn được. Sau đó, đến khoảng tháng 6/2016 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng và sống ly thân từ đó cho đến nay. Tại phiên toà anh S xác định tình cảm giữa anh và chị H không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Xét thấy, mâu thuẫn vơ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn cuûa anh Đoàn Bá S.

[3]. Về con cai: Anh Đoàn Bá S và chị Nguyễn Thị Mỹ H có con chung là Đoàn Phi V, sinh ngày 24/5/2015 và anh S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Xét về quyền lợi mọi mặt của con, cũng như nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Xét thấy, cháu V tư trươc đến nay ở với anh S tại đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, co nơi ăn ơ, sinh hoat, hoc tâp ôn đinh và anh S có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con cho anh Đoàn Bá S được trực tiếp nuôi dưỡng.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5]. Về tài sản chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6]. Về án phí: Nguyên đơn anh Đoàn Bá S phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cư vào khoản 1 Điều 28, Điều 144, Điều 147, Điều 220, khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đìnhNghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mưc thu, miên, giam, thu, nôp quan ly va sư dung an phi va lê phi toa an về mưc thu án phí, lệ phí Tòa án”.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Anh Đoàn Bá S được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ H.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Đoàn Phi V, sinh ngày 24/5/2015, cho anh Đoàn Bá S được trực tiếp nuôi dưỡng.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về an phi: Anh Đoàn Bá S phải chiu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đinh sơ thẩm, đươc khấu trư vao số tiền tam ưng an phi 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) ma anh S đa nôp theo biên lai số AA/2017/0000278 ngay 23/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Anh S đa nôp xong tiền an phi.

4. Thông báo quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng măt tai phiên toa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


109
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 11/01/2018 về ly hôn

Số hiệu:03/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về