Bản án 03/2017/HNGĐ-ST ngày 29/12/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 03/2017/HNGĐ-ST NGÀY 29/12/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2017/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2017 về việc kiện xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 04/2017/QĐ-ST ngày 12/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Khâu Thùy P (Tên gọi khác: Chiu Chui F), sinh năm 1961. Địa chỉ: số 6, ngách 8, ngõ 779, đường T, xóm 005, phường Đ, khu L, thành phố Đ, Đài Loan. Vắng mặt.

Hộ chiếu số: 315451514 do Bộ Ngoại giao Đài Loan cấp ngày 06/7/2017, thời hạn hộ chiếu ngày 06/7/2017.

Nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt đề ngày 23/10/2017, được Cục lãnh sự Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự ngày 13/11/2017

- Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Xóm Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 23/10/2017, ông Khâu Thùy P (Tên gọi khác: Chiu Chui F) trình bày: Ông và bà Trần Thị T kết hôn ngày 25/7/2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Ngày 07/11/2017 ông có hẹn bà T phỏng vấn visa tại Văn phòng kinh tế văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội, hai bên đều nhận thấy tính cách không hợp, không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông Khâu Thùy P xin ly hôn với bà Trần Thị T. Do ông Khâu Thùy P đang ở nước ngoài không về Việt Nam giải quyết việc ly hôn, ông có đơn xin xét xử vắng mặt có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Đài Loan.

Bị đơn bà Trần Thị T trình bày: Bà T xác nhận điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, hoàn cảnh kết hôn và đăng ký kết hôn đúng như ông Khâu Thùy P khai. Bà T xác định do bất đồng ngôn ngữ, bất đồng quan điểm sống, tình cảm với ông Khâu Thùy P không còn nên không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân. Việc ông Khâu Thùy P xin ly hôn bà cũng đồng ý, đề nghị Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông Khâu Thùy P.

Về con chung: Bà và ông Khâu Thùy P không có con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Bà Trần Thị T, ông Khâu Thùy P đều khai thống nhất, hai người mới đăng ký kết hôn nên không có tài sản chung, không nợ ai và không có ai nợ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T khai sau khi kết hôn, chồng bà ông Khâu Thùy P chung sống với bà tại huyện Y (nơi bà đăng ký hộ khẩu thường trú) 10 ngày, sau đó ông P về Đài Loan. Sau khi chung sống, hai người có bất đồng quan điểm, ngôn ngữ, tình cảm không phát triển được. Ông Khâu Thùy P có đơn xin ly hôn bà cũng đồng ý.

Tại phiên tòa kiểm sát viên trình bày quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm, thẩm phán thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn đang định cư ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt ông Khâu Thùy P là đúng với quy định pháp luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn ông Khâu Thùy P hiện đang định cư ở nước ngoài, có đơn xin ly hôn với bà Bà Trần Thị T, bà T có hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Theo quy định tại Điều 37, khoản 1 Điều 38, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

Nguyên đơn ông Khâu Thùy P có đơn xin xét xử vắng mặt, theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa ông Khâu Thùy P và bà Trần Thị T là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn được gần 03 tháng, hai người đều nhận thấy do có bất đồng về ngôn ngữ, tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống nên không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân, ông P có đơn xin ly hôn, phía bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn. Như vậy, điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông Khâu Thùy P và bà Trần Thị T rất trầm trọng, không thể tiếp tục đời sống chung vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, ông P xin ly hôn và bà T cũng đồng ý. Việc thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn ông Khâu Thùy P và bà Trần Thị T là tự nguyện, có căn cứ, phù hợp với Điều 51, 53, 55 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà T và ông P không có con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Bà T, ông P đều khai thống nhất hai người không có tài sản chung, không nợ ai và không có ai nợ.

Về án phí: Bà Trần Thị T tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51, 53, 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Ông Khâu Thùy P (Chiu Chui F) được ly hôn với bà Trần Thị T.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà Trần Thị T tự nguyện nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 000763 ngày 14 tháng 11 năm 2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.

Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Khâu Thùy P (Chiu Chui F) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

370
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2017/HNGĐ-ST ngày 29/12/2017 về ly hôn

Số hiệu:03/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hoà Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về

Bạn Chưa Đăng Nhập Tài khoản!