Bản án 02/2021/HS-ST ngày 13/01/2021 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 02/2021/HS-ST NGÀY 13/01/2021 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 13 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở cũ của Tòa án nhân dân huyện K, phố P, thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 80/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn S ( tên gọi khác Vũ Văn T); sinh năm 1965 tại K, Ninh Bình; Nơi cư trú: xóm 5, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 01/10.

Bố đẻ: Vũ Văn S1 (đã chết); Mẹ đẻ: Đinh Thị Y (đã chết); Gia đình có 7 anh em, bị cáo là con thứ 7; Vợ: Trần Thị T1 sinh năm 1967 hiện lao động tự do và trú tại xóm 5, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2001;

Tiền sự: không. Tiền án: có 01 tiền án; Tại bản án số 04/2007/HSST ngày 09/3/2007 của Tòa án nhân dân huyện K,tỉnh Ninh Bình xét xử về tội “Đánh bạc”, xử phạt Vũ Văn S 7.000.000 đồng và buộc phải nộp 200.000đ án phí; bị cáo Song thi hành xong khoản tiền phạt và án phí vào ngày 27/10/2020, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/10/2020 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1993, trú tại xóm 4, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Vũ Thành N (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 13/10/2020, Vũ Văn S là người có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” nhưng chưa được xóa án tích, đến bàn đại lý vé số của Vũ Thị H để mua 10 số lô Hà Nội mỗi số 5 điểm, tổng cộng 50 điểm thành tiền là 1.125.000 đồng; 04 số đề với tổng số tiền là 40.000 đồng; 01 số lô xiên 3 là 30.000 đồng. Tổng số tiền S mua của H 1.195.000 đồng. Khi H và S đang thanh toán số tiền 1.195.000 đồng và giao cáp ghi số lô, số đề thì bị Tổ công tác công an xã C phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ của H 01 cáp đề, số tiền 1.195.000 đồng. Vũ Thị H đã tự giao nộp 01 bút bi màu đen là phương tiện dùng để ghi số lô, số đề ngày 13/10/2020.

Quá trình điều tra xác định: Vũ Thị H ký hợp đồng làm đại lý bán vé xổ số cho Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết tỉnh Ninh Bình, hàng ngày H đặt bàn bán vé xổ số tại xóm 5, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Để kiếm thêm thu nhập, H còn bán các loại số lô, số đề trái phép cho khách có nhu cầu mua, sau đó căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, H tự trả thưởng cho người trúng thưởng. Đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề là người bán bán cho người mua các số đề có 02 số sau đó đọ kết quả với 02 số cuối, của giải đặc biệt. Đối với số đề cứ 1.000đồng nếu trúng thì H sẽ phải trả gấp 80 lần. Đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô Hà Nội là người bán bán cho người mua các số lô có 2 chữ số rồi so sánh với 02 số cuối của tất cả các giải với giá 1 điểm lô Hà Nội là 22.500 đồng, mỗi điểm lô nếu trúng thì người mua được 80.000 đồng. Hình thức lô xiên 3 người mua sẽ chọn 03 cặp số có 02 chữ số rồi so sánh kết quả với 02 số cuối của tất cả các giải của xổ số Miền Bắc, nếu trúng thưởng thì được trả thưởng gấp 40 lần số tiền bỏ ra. Nếu người mua không trúng thì H sẽ được hưởng số tiền mà người mua bỏ ra.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã chuyển đến tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện K số tiền 1.195.000đ; đồng thời chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K các vật chứng gồm: 01 bút bi màu đen để giải quyết cùng vụ án.

Bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 16/12/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo Vũ Văn S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 và 3 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung cáo trạng và đề nghị HĐXX:

- Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn S phạm tội “Đánh bạc” .

- Áp dụng khoản 1 Điều 321BLHS: xử phạt bị cáo Vũ Văn S từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106, 136 BLTTHS; Nghị quyết 236/2016 UBTVQH14:

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 1.195.000đ thu được từ Vũ Thị H là số tiền do bị cáo Vũ Văn S sử dụng ghi số lô số đề mà có.

+ Tịch thu tiêu hủy 01bút bi màu đen; tiếp tục lưu giữ vật chứng là 01 bảng cáp đề theo hồ sơ vụ án.

+ Buộc các bị cáo S phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, không có ý kiến bào chữa, không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa bị cáo S đã khai nhận hành vi của mình đã thực hiện như nội dung vụ án đã nêu; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét công khai tại phiên tòa hôm nay như: Biên bản vi phạm hành chính lập hồi 17 giờ 40 phút ngày 13/10/2020, lời khai của người liên quan và vật chứng thu giữ 01cáp đề và số tiền 1.195.000đ thu giữ của bị cáo và người liên quan.

Từ những chứng cứ đó, đã có đầy đủ cơ sở kết luận: khoảng 17 giờ 40 ngày 13/10/2020 tại bàn vé xổ số của Vũ Thị H ở xóm 5, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Vũ Văn S là người có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích, đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua “số lô, số đề” của Vũ Thị Hạnh với tổng số tiền huy động vào việc đánh bạc là 1.195.000đ; hành bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, gây mất an ninh trật tự tại địa phương cần được xử lý nghiêm.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51.

Mặc dù bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo là người đã có tiền án về tội đánh bạc, với số tiền phạt không lớn từ 2007 nhưng không chịu thi hành hết tiền phạt nên chưa được xóa án tích nhận thức rất rõ việc đánh bạc bằng hình thức chơi số lô số đề là vi phạm pháp luật; song để thỏa mãn nhu cầu hưởng lợi từ việc làm trái pháp luật đó, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội; do đó cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nhằm răn đe phòng ngừa chung đồng thời ngăn chặn loại hình đánh bạc này lan rộng.

Khi lượng hình xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo là bệnh nhân ung thư lưỡi, đã phẫu thuật từ 2014 hiện vẫn còn phải tiếp tục điều trị lâu dài, vợ vị cáo bị tai biến đang phải điều trị tại bệnh viện, hoàn cảnh kinh tế khó khăn do đó không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Đối với Vũ Thị H ngày 13/10/2020 có hành vi bán số lô, số đề cho Vũ Văn S với số tiền là 1.195.000 đồng, do H chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc, gá bạc” nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã chuyển tài liệu đến Công an huyện K đề nghị UBND huyện K xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc theo điểm a, khoản 5 Điều 26 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là đúng theo quy định của pháp luật Hội đồng xét xử không xem xét lại .

[5] Về xử lý vật chứng: số tiền 1.195.000 đồng là số tiền đánh bạc cần tịch thu sung NSNN. 01bút bi màu đen là công cụ ghi số lô, số đề , không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; 01 bảng cáp đề hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí: Căn cứ điều 136 BLTTHS năm 2015, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14; buộc bị cáo Vũ Văn S phải nộp 200.000đ án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[7] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên cơ quan điều tra Công an huyện K, Kiểm sát viên viện Kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đều đã thực hiện hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

1.Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn S phạm tội “Đánh bạc” .

Xử phạt bị cáo Vũ Văn S 06 ( sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành hình phạt tù

2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 BLHS;

+ Tịch thu số tiền 1.195.000đ sung quỹ nhà nước.

+ Tịch thu tiêu hủy 01bút bi màu đen.

+ Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 bảng cáp đề.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 BLTTHS năm 2015; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Vũ Văn S phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.


23
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về