Bản án 02/2021/HS-ST ngày 08/01/2021 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ  

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 02/2021/HS-ST NGÀY 08/01/2021 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 08 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2020/TLST- HS ngày 30 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2020, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Lữ Văn N, sinh năm 1975 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú : Thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lữ Văn D (chết) và bà Trần Thị C (sinh năm 1934); có vợ là Nguyễn Thị H (sinh năm 1981), con có 02 người, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Anh Ngô Văn H, sinh năm 1980 (chết); địa chỉ: Số nhà 229/6, đường T, phường N, thị xã, tỉnh Bình Định.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại được cử đại diện: Chị Triệu Thị N1, sinh năm 1987; địa chỉ: Số nhà 229/6, đường T, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xủ vắng mặt (theo Giấy cử người đại diện lập ngày 13 tháng 7 năm 2020).

- Bị đơn dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ vận tải T Địa chỉ: Số 23, đường T, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Mai Văn Tr, sinh năm 1973 - Là giám đốc Công ty, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Ngô Phi H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 699, đường H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Thành Q, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm 12, xã T, huyện Th, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

3. Anh Trịnh Đình H2, sinh năm 1977; sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn Mi, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lữ Văn N (có giấy phép lái xe hạng E) là tài xế xe ô tô khách 49B- 014.77 (xe của công ty T) vận chuyển hành khách từ Thanh Hóa đến Lâm Đồng và ngược lại (theo hợp đồng lao động). Theo lộ trình, khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/7/2020, Lữ Văn N trực tiếp điều khiển xe ô tô chạy từ huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi đến tỉnh Lâm Đồng. Trên xe có anh Ngô Phi H1, anh Nguyễn Thành Q (đều là tài xế) và anh Trịnh Đình H2 (là phụ xe). Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 08/7/2020, N điều khiển xe chạy trên đoạn đường tránh Quốc lộ 1A thuộc thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, N điều khiển với tốc độ khoảng 70 km/h, chạy bên phải phần đường theo hướng Bắc-Nam. Khi xe chạy đến ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ 1A với đường đi thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, thị xã An Nhơn, Lữ Văn N quan sát phía trước cùng chiều có 01 xe ô tô tải (không rõ biển số), N bật đèn tín hiệu xi nhanh và cho xe chuyển hướng qua bên trái đường (theo hướng Bắc-Nam) để vượt xe ô tô tải. Tuy nhiên, khi xe N điều khiển vừa vượt qua xe ô tô tải thì N phát hiện thấy xe mô tô 77F1-02015 do anh Ngô Văn H điều khiển theo hướng Tây - Đông chạy vào khu vực ngã tư giao và đã chạy qua khỏi đầu xe ô tô tải, đi vào phần đường bên trái theo chiều tiến của xe ô tô khách do N điều khiển. Do không làm chủ tốc độ, vượt xe không đảm bảo an toàn và khoảng cách giữa hai xe gần, N xử lý không hiệu quả, nên đã để phần đầu xe ô tô khách tông vào xe mô tô của anh H, làm anh H và xe mô tô ngã xuống đường. Hậu quả anh H chết tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng nặng.

Tại bản Cáo trạng số 61/CT-VKSAN ngày 30 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn đã truy tố bị cáo Lữ Văn N về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Lữ Văn N từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự đã thỏa thuận giải quyết xong, miễn xét.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1, E mang tên Lữ Văn N.

Tại phiên tòa, bị cáo Lữ Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn về hành vi và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã An Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo Lữ Văn N thừa nhận nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ vào lúc 0 giờ 30 phút ngày 08 tháng 7 năm 2020 tại đoạn tránh Quốc lộ 1A thuộc thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, làm anh Ngô Văn H chết là do bị cáo điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 49B-01477 chạy theo hướng Bắc-Nam, với tốc độ khoảng 70km/h, cho vượt xe phía trước không đúng quy định và không đảm bảo an toàn, nên đã để đầu xe ô tô khách do mình điều khiển tông vào xe mô tô 77F1- 02015 do anh Ngô Văn H điều khiển qua đường vào khu vực ngã tư giao nhau.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản hiện Tr, biên bản khám nghiệm tử thi cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác định nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông lỗi thuộc về bị cáo. Bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã được cơ quan có thẩm quyền sát hạch và cấp giấy phép lái xe hợp lệ, nhưng khi tham gia giao thông đã không tuân thủ các quy tắc tham gia giao thông đường bộ, điều khiển cho vượt xe trong đoạn đường không được vượt xe và không làm chủ được tốc độ.

[4] Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9; khoản 2, khoản 5 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ và Điều 5 của Thông tư 31/2019/TT- BGTVT ngày 29 tháng 8 năm 2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người. Do đó, hành vi của bị cáo Lữ Văn N đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

[5] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người bị hại, gây ra nỗi đau mất mát cho gia đình nạn nhân mà còn xâm phạm đến tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ nên cần xử lý bằng pháp luật hình sự.

[6] Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tác động và cùng chủ phương tiện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại trách nhiệm dân sự và xin miễn trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[7] Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, nơi cư trú rõ ràng, không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo cũng đủ giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, đại diện hợp pháp người bị hại, đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự đã thỏa thuận bồi thường số tiền 200.000.000đ, đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn bãi nại trách nhiệm dân sự, nên miễn xét.

[9] Về xử lý vật chứng:

- 01 xe ô tô biển kiểm soát số 49B-01477; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 1825683, 01 giấy chứng nhận biên nhận thế chấp, 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 049238 đối với xe ô tô 49B-01477 và 01 xe mô tô 77F1-02015, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã An Nhơn đã xử lý trả cho chủ sở hữu hợp pháp, nên miễn xét.

- 01 Giấy phép lái xe hạng A1, E mang tên Lữ Văn N, áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên trả cho bị cáo.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo N phải chịu 200.000đ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Tuyên bố bị cáo Lữ Văn N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lữ Văn N 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lữ Văn N cho UBND xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong Tr hợp bị cáo Lữ Văn N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Lữ Văn N cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Lữ Văn N phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự đã thỏa thuận bồi thường xong, nên miễn xét.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1, E mang tên Lữ Văn N.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lữ Văn N phải chịu 200.000đ

* Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hơp pháp của người bị hại chị Triệu Thị N1 và người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự ông Mai Văn Tr vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


21
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về