Bản án 02/2021/HS-ST ngày 08/01/2021 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 02/2021/HS-ST NGÀY 08/01/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 83/2020/HSST ngày 01/12/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2020/QĐXXST- HS ngày 25/12/2020 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đinh Văn H - sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ở và ĐKNKTT: Thôn 1 H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Đinh Văn Đ và bà Nguyễn Thị H (cả hai đã chết); Vợ: Nguyễn Thị C; Con: Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án:

+ Tại bản án số 93/2017/HSST ngày 17/7/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Hà Nam xử phạt 15 tháng tù về tội“Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/5/2018, Đinh Văn H đã chấp hành xong.

+ Tại bản án số 44/2019/HSST ngày 14/8/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù về tội“Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/4/2020, Đinh Văn H đã chấp hành xong.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 31/8/2020, chuyển tạm giam ngày 31/8/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Có mặt.

2. Họ và tên: Hoàng Văn B - sinh năm 1990;Tên gọi khác: Không; Nơi ở và ĐKNKTT: Thôn 3 H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Hoàng Thế M và bà Đinh Thị V; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 07/10/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Có mặt.

- Bị hại:

+ Màn Thị H, sinh năm 1972. Trú tại: Thôn 4 – V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

+ Nguyễn Thị H, sinh năm 1980. Trú tại: Thôn 1 – H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Chị H , chị H đều có đơn đề nghị xin xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Đinh Thị H, sinh năm 1978. Trú tại: Thôn 2 H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt).

+ Hoàng Thị M, sinh năm 1982. Trú tại: Thôn 3 H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt).

+ Nguyễn Thị C, sinh năm 1979. Trú tại: Thôn 1 H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt).

+ Hoàng Thế M, sinh năm 1956. Trú tại: Thôn 3 H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt).

+ Đinh Thị L, sinh năm 1966. Trú tại: Thôn 3 H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt).

- Người làm chứng: Đinh Văn C, sinh năm 1973; Đinh Văn T, sinh năm 1997. (Ông C và anh T đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Màn Thị H sinh năm 1972, trú tại thôn 4 V, xã T, huyện N là công nhân Công ty khai thác công trình thủy lợi một thành viên tỉnh Ninh Bình và được giao trông coi vận hành trạm bơm H tại thôn H, xã T, huyện N. Vụ lúa xuân hè năm 2020, sau khi thu hoạch lúa, gia đình bà Màn Thị H và gia đình bà Nguyễn Thị H sinh năm 1980 trú tại thôn 1 H, xã T, huyện N có cất lúa tại phòng phía Đông bên trái nhà kho trạm bơm H, bà H là người quản lý chìa khóa.

Tối ngày 21/7/2020, Đinh Văn H và Hoàng Văn B đều là người nghiện ma túy nên H sử dụng điện thoại di động số thuê bao 0398.937.184 và B sử dụng điện thoại di động sô thuê bao 0334.480.503 liên lạc rủ nhau đến đường liên thôn thuộc địa phận thôn 3 H, xã T, huyện N để sử dụng ma túy. Sau đó B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, BKS 35H1-7500 mang theo ma túy đến điểm hẹn rồi B chở H đến đê Hoàng Long thuộc địa phận thôn H, xã T cùng nhau sử dụng. Do biết gia đình bà H và bà H có để lúa ở trạm bơm nên H và B đã rủ nhau đến trạm bơm H thuộc thôn H, xã T, huyện N trộm cắp lúa về bán lấy tiền ăn tiêu. H điều khiển xe mô BKS 35H1-7500 chở B đi đến trạm bơm H rồi dừng để xe tại đường vào phía bên trái trạm bơm. Lúc này do trời tối, trạm bơm không có người trông coi, H và B cùng trèo qua tường bao cao 1,5m đột nhập vào bên trong trạm bơm sau đó đi đến phòng phía Đông nhà kho. H và B đã phá khóa cửa phòng phía Đông nhà kho rồi mở cửa cùng nhau đột nhập vào vác 10 bao lúa mang ra để tại chân tường phía trong cạnh cổng trạm bơm rồi H trèo qua tường ra đứng bên ngoài trạm bơm còn B ở bên trong vác các bao lúa đưa qua tường cho H. Sau đó H để một bao lúa lên yên xe mô tô, một bao lúa lên giá để hàng giữa xe mô tô BKS 35H1-7500 rồi điều khiển xe mô tô chở lúa đến nhà anh rể là Đinh Văn C, sinh năm 1973 tại thôn 2 H, xã T cất giấu. Lúc này gia đình ông C chỉ có anh Đinh Văn T, sinh năm 1997 đang ngủ trong nhà không biết, H đã để lúa trộm cắp được ở ngoài sân rồi điều khiển xe mô tô quay lại trạm bơm H.

Trong lúc H chở lúa đi cất giấu thì B ở bên trong trạm bơm vác tiếp 20 bao lúa ra để ở chân tường trong sân trạm bơm. Sau khi H chở hết 10 bao lúa cả hai lấy được đợt đầu, B ở bên trong trạm bơm vác lần lượt 20 bao lúa đưa qua tường cho H để H chở đi cất giấu tại nhà anh Đinh Văn C. Trong thời gian từ 21 giờ 30 phút ngày 21/7/2020 đến 02 giờ ngày 22/7/2020, H và B đã trộm cắp 30 bao lúa có tổng trọng lượng là 1.246,5kg của gia đình bà Nguyễn Thị H và Màn Thị H để ở nhà kho của trạm bơm. H đã sử dụng xe mô tô chở tổng cộng 15 chuyến, mỗi chuyến 02 bao lúa đến sân nhà anh C.

Quá trình chở lúa đi cất giấu, H phát hiện 10 bao lúa có viết chữ trong đó có 08 bao viết chữ “Thủy” còn 02 bao viết chữ “H” và chữ “T” nên H đã chở 10 bao lúa có đánh dấu viết chữ bên ngoài vỏ bao đến đình làng H để rồi đến nhà chị gái là Đinh Thị H sinh năm 1978, trú tại thôn 2 H, xã T lấy 12 chiếc vỏ bao màu cam nhãn hiệu UARE tại bờ tường trong sân nhà chị H rồi mang đến sân đình thay 10 bao lúa có viết chữ đánh dấu nêu trên sang 12 vỏ bao của H rồi chở về để ở sân nhà anh C. Sau đó, H quay lại trạm bơm đón B, cả hai cùng nhau đi sử dụng ma túy và rồi về nhà đi ngủ. Đến khoảng 8 giờ ngày 22/7/2020, H đến nhà anh C thì gặp Đinh Văn T. T hỏi H “Có việc gì vậy cậu” thì H nói Cho cậu gửi mấy bao lúa không để ở nhà mợ C lại không cho bán” , sau đó H bê 30 bao lúa từ sân vào trong gầm cầu thang nhà anh C để cất giấu rồi đi về. Còn 10 vỏ bao lúa của gia đình bà H, bà H có chữ đánh dấu, H mang đến núi ông Y tại thôn H, xã T đốt để che dấu hành vi vi phạm.

Khong 18 giờ ngày 23/7/2020, H đến nhà anh C nói với T: “Cháu chở lúa ra bà L hộ cậu để cậu sát lúa bán lấy tiền đóng tiền học cho em và đóng tiền điện” sau đó H và anh T chở 06 bao lúa đến nhà bà Đinh Thị L, sinh năm 1966, tại thôn 3 H, xã T bán cho bà L. Tổng 06 bao lúa trọng lượng 230kg, bà L đã trả trước cho H 300.000 đồng. H đã sử dụng số tiền 300.000 đồng trên mua ma túy để sử dụng.

Chiều ngày 23/7/2020, bà Màn Thị H đến trạm bơm H phát hiện cửa khóa căn nhà bị phá liền vào trong kiểm tra thì phát hiện lúa của gia đình mình và gia đình bà H bị trộm cắp đã gọi điện báo cho bà H biết sau đó đến Công an xã T trình báo sự việc. Quá trình xác minh, Công an xã T đã triệu tập Đinh Văn H đến làm việc thì H đã thừa nhận hành vi trộm cắp lúa trong nhà kho thuộc trạm bơm H. Công an xã T, huyện N đã thu giữ 32 bao lúa (thu 26 bao lúa tại gầm cầu thang nhà ông Đinh Văn C và 06 bao lúa tại nhà bà Đinh Thị L) có tổng trọng lượng 1.246,5kg; 01 ổ khóa Việt Tiệp có vết sạt xước sơn bị bật chốt tại nhà kho trạm bơm H. Sau đó Công an xã T đã chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 42/KLHĐĐG ngày 28/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: Trị giá 1.246,5kg lúa chứa trong 32 bao có giá trị tại thời điểm định giá là 9.348.750 đồng”.

Sau đó do Đinh Văn H bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với Đinh Văn H. Ngày 31/8/2020, H đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đầu thú và khai nhận H cùng với Hoàng Văn B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại trạm bơm H ngày 21/7/2020. Quá trình điều tra, Hoàng Văn B cũng đã thừa nhận hành vi trộm cắp của mình Tại bản Cáo trạng số 85 /CT-VKSNQ- HS ngày 30 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo Đinh Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2, khoản 5, Điều 173 Bộ luật hình sự và Hoàng Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, khoản 5, Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Văn H và Hoàng Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: điểm g, khoản 2 Điều 173; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn H từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/8/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H vì bị cáo đang bị tạm giam, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B từ 9 tháng đến 12 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/10/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo B vì bị cáo đang bị tạm giam, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị.

- Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc sim điện thoại không rõ seri, không xác định được số thuê bao đã được niêm phong của Đinh Văn H không còn giá trị sử dụng. Đinh Văn H không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo B và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N .

Bị cáo H tranh luận về việc ra đầu thú và khai báo thành khẩn nhưng không áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Kiểm sát viên tranh luận đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ khi bị cáo ra đầu thú theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo vì quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H và bị cáo B không thành khẩn khai báo về việc bị cáo hay bị cáo B ai là người khởi xướng, rủ rê thực hiện việc trộm cắp tài sản của chị H và chị H. Vì vậy bị cáo và bị cáo B không được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi Kiểm sát viên đưa ra tài liệu, chứng cứ là các các biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất của các bị cáo thì bị cáo H vẫn giữ nguyên ý kiến tranh luận. Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội với bị cáo H.

Lời nói sau cùng của bị cáo H, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì gia đình khó khăn. Lời nói sau cùng của bị cáo B xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo ân hận với việc làm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Quá trình điều tra Đinh Văn H và Hoàng Văn B đã thừa nhận hành vi trộm cắp lúa tại nhà kho thuộc trạm bơm H của gia đình bà Màn Thị H và bà Nguyễn Thị H nhưng cả hai bị cáo không thừa nhận ai là người tổ chức, khởi xướng việc đi trộm cắp tài sản. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại, vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Đã có đủ cơ sở pháp lý khẳng định: Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 30 phút ngày 21/7/2020 đến 02 giờ ngày 22/7/2020, các bị cáo Đinh Văn H và Hoàng Văn B đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của các gia đình bà Nguyễn Thị H và Màn Thị H để ở nhà kho của trạm bơm là 1.246,5 kg lúa chứa trong 32 bao có giá trị là 9.348.750 đồng.

Như vậy, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Đinh Văn H và Hoàng Văn B là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật do đó lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp và phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Hội đồng xét xử xác định đã có đủ cơ sở pháp lý, khẳng định: Hành vi, tội danh và các điểm, khoản, điều luật áp dụng tại bản cáo trạng, bản luận tội, các chứng cứ buộc tội các bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử kết luận: Hành vi mà các bị cáo Đinh Văn H và Hoàng Văn B thực hiện đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.

Để quyết định hình phạt tương xứng với các bị cáo cần phân tích vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Hội đồng xét xử xác định: Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, dù các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa không xác định được vai trò cụ thể của từng bị cáo trong vụ án. Nhưng các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình là cả hai cùng nhau trộm cắp tài sản là lúa của gia đình chị Màn Thị H và Nguyễn Thị H. Vì vậy vai trò của các bị cáo trong vụ án được xác định đều là người thực hành.

Trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã căn cứ vào quy định của pháp luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo H: Bị cáo H là người có tiền án.

+ Tại bản án số 93/2017/HSST ngày 17/7/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Hà Nam xử phạt 15 tháng tù về tội“Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/5/2018, Đinh Văn H đã chấp hành xong.

+ Tại bản án số 44/2019/HSST ngày 14/8/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù về tội“Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/4/2020, Đinh Văn H đã chấp hành xong.

Tiền sự: Không Bị cáo Đinh Văn H có nhân thân xấu. Tại bản án số 17/2013/HSST ngày 19/2/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 11/01/2012 bị cáo bị Ủy ban nhân dân huyện N ra quyết định số 14 đưa vào cơ sở chữa bệnh đưa vào cơ sở chữa bệnh do nghiện ma túy.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo H có tình tiết giảm nhẹ là đã ra đầu thú và có mẹ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo được giảm một phần hình phạt.

Đối với bị cáo Hoàng Văn B: Bị cáo B không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo B không có tình tiết tăng nặng .

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng , bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự. Bị cáo được giảm một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung đối với các bị cáo: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H và bị cáo B vì các bị cáo đang bị tạm giam, không có nghề nghiệp, các bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản cá nhân có giá trị.

3. Về vật chứng của vụ án và tài sản đã thu giữ:

Đối với 1.246,5 kg lúa bị Đinh Văn H và Hoàng Văn B trộm cắp là tài sản hợp pháp của gia đình bà Nguyễn Thị H và gia đình bà Màn Thị H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho gia đình bà H và bà H. Sau khi nhận lại tài sản bà H và bà H không có đề nghị gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Boss, biển kiểm soát 35B1- 050.98 là tài sản hợp pháp của chị Đinh Thị H. Quá trình điều tra đã chứng M không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chị H là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 35H1-7500 là tài sản hợp pháp của chị Hoàng Thị M cho B mượn sử dụng. Chị Mai không biết việc B mượn xe để đi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chị Mai là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, ký hiệu MODEL TA1010 thu của Đinh Văn H. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của vợ H là chị Nguyễn Thị C sinh năm 1979, trú tại thôn 1 H, xã T, huyện N không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chị C là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen thu của Hoàng Văn B là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Thế M (bố Hoàng Văn B) sinh năm 1956 trú tại thôn 3 H, xã T, huyện N. Ông M không biết việc B sử dụng điện thoại của mình để rủ H đi sử dụng ma túy, không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chị ông M là phù hợp.

Đối với chiếc sim điện thoại không rõ số seri, không xác định được số thuê bao đã được niêm phong của Đinh Văn H không còn giá trị sử dụng; bị cáo H không yêu cầu trả lại nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, bà Màn Thị H và bà Nguyễn Thị H xác định bị trộm cắp tổng 45 bao lúa, trong đó bà H bị mất 23 bao lúa, bà H bị mất 22 bao lúa. Tài liệu điều tra đủ căn cứ xác định H và B trộm cắp 30 bao (khi định giá xác định là 32 bao vì lúa được chuyển sang đựng vào các bao tải nhỏ hơn), đối với 15 bao lúa còn thiếu của bà H và bà H không có đủ căn cứ chứng minh H và B đã trộm cắp nên không có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, ông Đinh Văn C và anh Đinh Văn T không biết lúa mà H mang đến gửi ở nhà mình là tài sản do H phạm tội mà có, anh Đinh Văn T giúp H chở lúa đi bán. Bà Đinh Thị L là người mua của H 06 bao lúa không biết lúa H bán cho mình là tài sản do H phạm tội mà có nên ông C, anh T và bà L không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này.Việc xử lý của Cơ quan điều tra là phù hợp với quy định của pháp luật Đối với việc Đinh Văn H lấy 12 vỏ bao tải đựng lúa của gia đình chị Đinh Thị H. Quá trình điều tra và tại phiên tòa chứng minh chị H không xác định gia đình mình có bị mất vỏ bao tải hay không nên không đủ căn cứ để xử lý hành vi của Đinh Văn H.

4. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại 30 bao lúa đã thu hồi, số lúa còn lại theo các bị hại chưa thu hồi cũng không yêu cầu các bị cáo bồi thường .

Về chiếc khóa cửa hỏng là của bà H, bà H không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

Đối với số tiền 300.000 đồng là tiền mua lúa mà bà Đinh Thị L đã trả trước cho Đinh Văn H, bà L không yêu cầu H phải trả lại cho bà L số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn H và Hoàng Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: Điểm g, khoản 2, Điều 173; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn H 27 tháng tù , thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/8/2020.

Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm i khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 06 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/10/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết về trách nhiệm dân sự.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Các bị cáo Đinh Văn H và Hoàng Văn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trưng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2021/HS-ST ngày 08/01/2021 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:02/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về