Bản án 02/2021/HNGĐ-ST ngày 08/01/2021 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 02/2021/HNGĐ-ST NGÀY 08/01/2021 VỀ LY HÔN

 Ngày 08 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 543/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:183/2020/QĐXX-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Phạm Thị P, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Ấp LC, xã ĐT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Anh Dưu Huệ T, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ấp HT, xã LĐ, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu. (chị P có mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 15/7/2020, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị Phạm Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị với anh T chung sống vào năm 2009, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, được cha mẹ tổ chức đám theo phong tục tại địa P và có đến Ủy ban nhân dân xã LĐn, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu đăng ký kết hôn năm 2011.

Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng không hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người một suy nghĩ, cách sống khác nhau. Sau khi cưới thì chị và anh T cất nhà ở riêng, trong thời gian chung sống thì anh T thường xuyên đi chơi vắng nhà, đi sớm về trễ không quan tâm đến chị. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng cũng đã nhiều lần hòa giải, hàn gắn để tiếp tục chung sống nhưng không thành.

Vợ chồng đã sống ly thân hơn 10 năm, trong khoảng thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Nay xét thấy vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, tiếp tục chung sống cũng không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con: Chị và anh T không có con chung.

Về tài sản chung và nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Dưu Huệ T vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định luật Tố tụng Dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo giấy triệu tập của Tòa án.

Nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2009, chị P và anh T tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa chị P và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân của chị P và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho chị P được ly hôn với anh T là phù hợp.

Về con chung: Chị P và anh T không có con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản và nợ: Chị P không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí chị P nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị P khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Dưu Huệ T, anh T có địa chỉ cư trú tại ấp HT, xã LĐ, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân: Năm 2009, chị P và anh T tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Điền, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống giữa chị P và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có một suy nghĩ, cách sống khác nhau, hiện nay chị P xác định mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống giữa chị P và anh T không thực hiện được mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân hơn 10 năm, trong khoảng thời gian sống ly thân anh chị không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh T đến tham dự phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy hôn nhân của chị P và anh T đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị P được ly hôn với anh T là phù hợp.

[2.2]. Về con: Chị P và anh T không có con chung nên không xem xét giải quyết.

[2.3]. Về tài sản và nợ: Chị P không yêu cầu nên không xem xét.

[2.4]. Về án phí sơ thẩm hôn nhân: Chị P phải nộp số tiền 300.000 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị P được ly hôn với anh Dưu Huệ T.

2. Về con chung: Không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ: Chị Phạm Thị P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm hôn nhân: Chị Phạm Thị P nộp số tiền 300.000 đồng, chị Phạm Thị P đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007991 vào ngày 22/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí.

Án xử công khai, chị Phạm Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, anh Dưu Huệ T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2021/HNGĐ-ST ngày 08/01/2021 về ly hôn

Số hiệu:02/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hải - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về