Bản án 02/2020/HS-ST ngày 16/01/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 02/2020/HS-ST NGÀY 16/01/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 16/01/2020 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2020/HSST, ngày 02/01/2020; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS, ngày 03/01/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Anh T; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 11/10/1997; tại thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKNKTT và cư trú: Tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Anh T1 và bà Lê Thị H; Vợ; con: Chưa; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/12/2019 đến ngày 17/12/2019 chuyển tạm giam, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Thanh B; sinh năm: 1971. Cư trú: Thôn M, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

- Đại diện UBND xã K, huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Dương H1; Chức vụ: Phó chủ tịch UBND xã K, huyện H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 15/12/2019, Trần Anh T, sinh năm 1997, trú tại tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H một mình đón xe buýt từ thị trấn P đến thị trấn T, huyện H để chơi. Khi đến, T gặp một người đàn ông tên Luật mà T có quen biết từ trước nhưng không rõ nhân thân, lai lịch tại điểm chờ xe buýt thị trấn T. Qua nói chuyện, người này nói cho T hồng phiến để sử dụng và hướng dẫn T đến tại chân cột biển báo giao thông, đầu đường thuộc đường hai chiều cùng phía Trung tâm thương mại thị trấn T nơi cất dấu 01 gói ni lông màu trắng bên trong chứa hồng phiến. T đồng ý và đi đến địa điểm theo hướng dẫn của Luật, khi đến T thấy 01 gói ni lông màu trắng, bên ngoài quấn băng dính màu đen, biết bên trong có chứa hồng phiến nên T cất dấu vào túi quần đang mặc trên người và bắt xe buýt về nhà, T mở gói ni lông ra kiểm tra thấy bên trong chứa 15 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY, T lấy sử dụng hết 05 viên, số viên nén còn lại T bọc lại trong túi ni lông cũ cất vào túi quần. Đến khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 16/12/2019, Trần Anh T mang theo 10 viên nén màu hồng chứa trong gói ni lông màu trắng, bên ngoài quấn băng dính màu đen đi bộ hướng vào xã S1, huyện H để tìm nơi sử dụng. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến thôn M, xã S, huyện H thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ quả tang Trần Anh T đang cầm trên tay 01 gói ni lông màu trắng, bên ngoài quấn băng dính màu đen, bên trong chứa 10 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY.

Tại bản kết luận giám định số: 04/GĐMT-PC09, ngày 17/12/2019 của Phòng kỷ thuật Hình sự, Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: 10 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY gửi giám định là ma túy, là Methamphetamine, có khối lượng 1,0638 gam.

Vật chứng vụ án, gồm: 01 phong bì thư được dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và bị cáo Trần Anh T, bên trong đựng một gói ni lông màu trằng được quấn băng dính màu đen đựng 0,8585 gam Methamphetamine đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện H.

Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKS-HS, ngày 02/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Anh T mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 16/12/2019).

Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, để tịch thu, tiêu hủy 0,8585 gam Methamphetamine là vật nhà nước cấm lưu hành thu của bị cáo.

Bị cáo Trần Anh T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố tại phiên tòa hôm nay và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những người tham gia tố tụng: Người chứng kiến anh Nguyễn Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của anh B không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến trong vụ án nên quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[3] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định vào khoảng 11h30’ Trần Anh T đã có hành vi tàng trữ 1,0638 gam Methamphetamine trong người ở thôn M, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh nhằm mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý. Methamphetamine là chất gây nghiện quy định tại Nghị định số: 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ, khi con người sử dụng sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của nòi giống con người nhưng để thỏa mạn cơn nghiện cho bản thân bị cáo bất chấp pháp luật. Trong điều kiện Đảng và Nhà nước ta đang xem tệ nạn ma túy là một hiểm họa, các ngành chức năng đang tập trung nhiều biện pháp để đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi hiểm họa này thì hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, bị cáo có tuổi đời còn non trẻ nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện chăm lao động, sản xuất mà sớm rơi vào lối sống buông thả nên đã nghiện ma tuý, hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người, nên Hội đồng xét xử cần xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Còn về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, có ông ngoại được Nhà nước tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang nên cần căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

[6] Đối với người đàn ông tên Luật cho bị cáo T số ma túy trên do không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể, Cơ quan CSĐT Công an huyện H không có căn cứ xử lý, Viện kiểm sát không truy tố nên Hội đồng xét xử miễn xét. [7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn phạt tiền.

[8] Về vật chứng vụ án: 0,8585 gam Methamphetamine thu của bị cáo Trần Anh T là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm đề nghị xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa phù H1 nhận định Hội đồng xét xử và đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Về áp dụng điều luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Anh T 27 (hai bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 16/12/2019).

- Về vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư được dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và bị cáo T, bên trong một gói ni lông màu trằng, quấn băng dính màu đen đựng 0,8585 gam Methamphetamine thu của bị cáo Trần Anh T (đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/12/2019).

- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/01/2020).


3
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2020/HS-ST ngày 16/01/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:02/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hương Sơn - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/01/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về