Bản án 02/2020/HS-ST ngày 13/01/2020 về tội buôn bán hàng cấm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 02/2020/HS-ST NGÀY 13/01/2020 VỀ TỘI BUÔN BÁN HÀNG CẤM

Ngày 13 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Nhà văn hóa thôn B, xã C, huyện H. Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Nông Văn T, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1995 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; dân tộc: Nùng; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 10/12; con ông Nông Văn Đ, sinh năm 1972 và con bà Triệu Thị SL, sinh năm 1973; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự không có; nhân thân tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 12 năm 2019 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn T: Bà Lương Thị Kim M– Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nông Văn Đ, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Lý Đỗ H, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Anh Triệu Văn H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

3. Ông Lương Văn Đ, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

4. Ông Phan Đình H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11 tháng 12 năm 2019, Nông Văn T nhận được tin nhắn zalo từ một người có tên nick zalo “L Đ” hỏi mua 10 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp, Nông Văn T đồng ý và thỏa thuận giá bán pháo là 400.000 đồng/hộp, địa điểm mua bán là khu vực gần siêu thị B ở thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Đêm ngày 12 tháng 12 năm 2019, Nông Văn T đi qua đường mòn L B thuộc xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn sang địa phận nước Trung Quốc, khu vực giáp ranh giới với Việt Nam để vác hàng thuê. Tại đây, Nông Văn T gặp và trao đổi mua của một phụ nữ bán nước 10 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp với giá 100.000 đồng/hộp, người phụ nữ đồng ý và nói sẽ cho thêm 03 quả pháo hình bóng đèn (còn gọi là pháo trứng) nhưng chưa nói rõ thời gian mua pháo. Đêm ngày 13 tháng 12 năm 2019, Nông Văn T tiếp tục sang nước Trung Quốc vác hàng thuê và gặp người phụ nữ đã thỏa thuận mua pháo, thông báo sáng ngày 14 tháng 12 năm 2019 mang pháo đến địa điểm bán nước để bán cho Nông Văn T. Khoảng 05 giờ ngày 14 tháng 12 năm 2019, Nông Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K3-0245 đi từ nhà ở thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến khu vực đường mòn L B thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nông Văn T để xe ở lề đường dưới chân đồi, đi bộ qua đường mòn đến vị trí đã hẹn. Tại đây, Nông Văn T đã mua của người phụ nữ nói trên 10 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp với giá 1.000.000 đồng và được cho thêm 03 quả pháo trứng đựng trong túi nilon màu đỏ được đóng chung trong một thùng các tông, bọc ngoài bằng bao tải dứa màu xanh. Sau đó Nông Văn T vác toàn bộ số pháo xuống chân dốc rồi sử dụng xe mô tô vận chuyển về nhà. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Nông Văn T mang số pháo đã mua ra ngã 3 gần Ủy ban nhân dân xã T, huyện V đón xe khách biển kiểm soát 29B-030.98 do anh Lý Đỗ H điều khiển, vận chuyển pháo đến thành phố B để bán cho người có nick “L Đ”. Đến hồi 14 giờ 15 phút ngày 14 tháng 12 năm 2019, khi Nông Văn T đi đến Km 84 + 200 Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, thì bị tổ công tác Công an huyện H phối hợp với tổ công tác Trạm Cảnh sát giao thông T D - Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang. Kiểm tra, phát hiện tại gầm ghế thứ 2 từ cuối xe lên có một bao tải dứa màu xanh, bên trong có một thùng các tông đựng 10 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp và 01 túi nilon màu đỏ đựng 03 quả pháo hình bóng đèn (pháo trứng).

Nông Văn T khai nhận toàn bộ số pháo trên là của Nông Văn T mua tại nước Trung Quốc, đang trên đường vận chuyển về thành phố B, tỉnh Bắc Giang để bán. Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nông Văn T, thu giữ 10 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp, mỗi hộp có kích thước 14,5cm x 14,5cm x 15cm, trong đó 08 hộp vỏ bọc bên ngoài màu đỏ có chữ Trung Quốc, đầu bọc giấy nilon màu vàng, đáy bọc giấy màu xám; 02 hộp vỏ bọc bên ngoài màu đen có chữ Trung Quốc, đầu bọc giấy nilon màu vàng, đáy bọc giấy màu xám; 03 quả pháo hình bóng đèn (pháo trứng) gồm 01 quả màu vàng, 01 quả màu cam, 01 quả màu đỏ, cùng có kích thước dài 07cm, chỗ rộng nhất có đường kính 04cm, chỗ nhỏ nhất đường kính 02cm; 01 túi nilon màu đỏ, 01 bao tải dứa màu xanh và 01 thùng các tông đã bị rách; 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc nhãn hiệu PHILIPS màu đen, màn hình bị rạn nứt, số IMEI 864371030820294; 01 chiếc nhãn hiệu Masstel màu đen, không có nắp phía sau.

Tại biên bản ngày 14 tháng 12 năm 2019 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn, xác định trọng lượng tổng số pháo thu giữ của Nông Văn T là 14,12kg (đã trừ bì).

Tại bản kết luận giám định số 13/KL-PC09 ngày 17 tháng 12 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận toàn bộ số pháo thu được của Nông Văn T gửi giám định đều có chứa thuốc pháo, khi đốt đều gây ra tiếng nổ.

Tại biên bản xác định hiện trường ngày 16 tháng 12 năm 2019 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn đã xác định được địa điểm Nông Văn T mua pháo ngày 14 tháng 12 năm 2019 là bãi đất trống đã đi qua biên giới nước Việt Nam sang nước Trung Quốc, thuộc địa phận B T, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Ngày 25 tháng 12 năm 2019, ông Nông Văn Đ là bố đẻ của Nông Văn T giao nộp cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K3-0245 và giấy đăng ký xe mang tên Lương Văn Đ.

Về vật chứng: Hiện đang tạm giữ vật chứng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo gồm 01 túi nilon màu đỏ, 01 bao tải dứa màu xanh; 01 thùng bìa các tông là dụng cụ Nông Văn T cất giấu pháo nổ; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS màu đen, màn hình bị rạn nứt, số IMEI 864371030820294 của Nông Văn T sử dụng để liên lạc trao đổi việc mua bán pháo; chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K3-0245 là tài sản của ông Nông Văn Đ, việc Nông Văn T sử dụng chiếc xe làm phương tiện vận chuyển pháo nổ ngày 14 thán 12 năm 2019 ông Nông Văn Đ không biết. Những tài sản, đồ vật còn lại không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, trong đó chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, không có nắp phía sau là của Nông Văn T sử dụng liên lạc hàng ngày; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lương Văn Đ là tài sản của ông Nông Văn Đ.

Tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKSHL-HS ngày 30 tháng 12 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm k khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nông Văn T giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra và khẳng định bị cáo bị truy tố, xét xử về tội buôn bán hàng cấm là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử, về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm k khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, căn cứ vào điểm k khoản 2 Điều 190, điểm s khoản 1 Điêu 51, các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự. Xử bị cáo Nông Văn T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì bị cáo không có tài sản riêng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu đỏ, 01 bao tải dứa màu xanh; 01 thùng bìa các tông.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS màu đen, màn hình bị rạn nứt, số IMEI 864371030820294.

Trả lại cho bị cáo Nông Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, không có nắp phía sau. Trả lại cho ông Nông Văn Đ 01 xe mô tô biển kiểm soát 12K3-0245, 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lương Văn Đ.

Phần tranh luận:

Bà Lương Thị Kim M- Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn T: Nhất trí về hành vi, về tội danh, về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xử lý vật chứng như Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức hình phạt từ 04 năm đến 05 năm tù và xem xét miễn, giảm tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Kiểm sát viên đối đáp ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, Kiểm sát viên giữ nguyên mức hình phạt như đã đề nghị. Vì mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo từ mức khởi điểm đầu khung hình phạt. Về đề nghị xem xét miễn, giảm tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo tại phiên tòa thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nông Văn T không có ý kiến tranh luận bổ sung. Ngoài ra, không ai có ý kiến tranh luận thêm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn T đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Khoảng 05 giờ ngày 14 tháng 12 năm 2019 Nông Văn T đi sang địa phận nước Trung Quốc mua của một người phụ nữ không quen biết 10 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp và 03 quả pháo trứng có tổng trọng lượng 14,12kg (đã trừ bì) với giá 1.000.000 đồng. Sau đó Nông Văn T đi xe khách biển kiểm soát 29B-030.98 do anh Lý Đỗ H điều khiển mang theo toàn bộ số pháo xuống thành phố B, tỉnh Bắc Giang để bán kiếm lời. Đến 14 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến Km 84 + 200 thuộc địa phận thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn thì bị bắt quả tang. Toàn bộ số pháo thu giữ của Nông Văn T được giám định, kết luận có chứa thuốc pháo, khi đốt đều gây tiếng nổ. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nông Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước về pháo nổ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi buôn bán pháo nổ trái phép là vi phạm pháp luật và tác hại của pháo nổ đối với bản thân con người, đối với mọi mặt của đời sống xã hội nhưng vì hám lợi, coi thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.

[5] Về nhân thân: Bị cáo Nông Văn T không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.

[6] Tình tiết tăng nặng: Không có.

[7] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nông Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét xét thấy để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là đang trước thời điểm tết nguyên đán Mậu Tý đã đến gần, cần thiết phải cách ly bị cáo Nông Văn T ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nông Văn T không có tài sản riêng, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[10] Đối với người phụ nữ bán pháo nổ cho Nông Văn T, bị cáo không biết họ tên, tuổi địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở điều tra làm rõ nên không đề cập xem xét.

Đi với người có tên nick zalo “L Đ” là người liên lạc trao đổi việc mua pháo nổ với Nông Văn T, bị cáo khai nhận quen biết qua mạng xã hội zalo cách ngày phạm tội khoảng 02 tuần, tuy nhiên Nông Văn T không biết họ tên, địa chỉ, không lưu số điện thoại của người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã có công văn đề nghị công ty Cổ phần tập đoàn V (VNG) cung cấp thông tin chủ tài khoản zalo “L Đ” nhưng chưa có công văn trả lời nên chưa có cơ sở mở rộng điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[11] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Cần tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu đỏ, 01 bao tải dứa màu xanh; 01 thùng bìa các tông do có liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS màu đen, màn hình bị rạn nứt, số IMEI 864371030820294 có liên quan đến hành vi phạm tội, còn giá trị sử dụng. Trả lại cho bị cáo Nông Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, không có nắp phía sau và trả lại cho ông Nông Văn Đ 01 xe mô tô biển kiểm soát 12K3-0245 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lương Văn Đ là những tài sản không liên quan đến việc phạm tội như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ.

[12] Đối với toàn bộ số pháo thu giữ là của Nông Văn T mua từ nước Trung Quốc, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn đã tiêu hủy theo đúng quy định pháp luật.

[13] Về án phí: Bị cáo Nông Văn T thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí nhưng bị cáo không có đơn đề nghị miễn, giảm án phí nên không đủ điều kiện được xét miễn, giảm án phí, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Nông Văn T tại phiên tòa về việc miễn, giảm tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[14] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm k khoản 2 Điều 190, điểm a khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điêu 51, các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn T 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 14 tháng 12 năm 2019.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu đỏ, đã rách; 01 bao tải dứa màu xanh, đã rách; 01 thùng bìa các tông, đã rách đã qua sử dụng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS, màu đen, đã qua sử dụng, bị rạn nứt màn hình, số IMEI 864371030820294.

Trả lại cho bị cáo Nông Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, đã qua sử dụng, không có nắp lưng phía sau.

Trả lại cho ông Nông Văn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu FAVOUR, vỏ xe có logo nhãn hiệu WAVE, phần thân máy hiệu FAVOUR, biển kiểm soát 12K3-0245, số khung H4UM7X013106, số máy 52FMHZ013106; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 001853 của xe môtô biển kiểm soát 12K3-0245 mang tên Lương Văn Đ do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 01/6/2007.

(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 01 năm 2020).

4. Về án phí: Bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2020/HS-ST ngày 13/01/2020 về tội buôn bán hàng cấm

Số hiệu:02/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 13/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về