Bản án 02/2020/HS-ST ngày 11/03/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 02/2020/HS-ST NGÀY 11/03/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 11 tháng 3 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2020/TLST-HS, ngày 18/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 25/02/2020, đối với bị cáo:

Lê Minh T (tên gọi khác: Ba hổ, bá hổ), sinh năm 1988, tại B.

Nơi cư trú: Thôn 8, xã Đức Tín, huyện Đ, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Xiềng (Lê Công Xiềng), sinh năm 1950 và bà Phan Thị T Tâm, sinh năm 1956; chưa có vợ:

Tiền án: Không.

Tiền sự: Tại Quyết định số 110/QĐ-UBND ngày 08/10/2019, bị Ủy ban nhân dân xã Đức Tín, huyện Đ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng từ ngày 08/10/2019 đến ngày 08/01/2020 do hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân:

Tại bản án số 65/2008/HS-ST, ngày 23/7/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh B xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại bản án số 04/2010/HS-ST, ngày 26/01/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh B xử phạt 38 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại bản án số 27/2011/HS-ST ngày 30/12/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh B xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 30/3/2014 đã được xóa án tích.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh B. Có mặt.

Người làm chứng: Nguyễn Đức V, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn 4, xã Đức Hạnh, huyện Đ, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khỏang 11 giờ ngày 19/11/2019, Công an huyện Đ, tỉnh B phối hợp với Công an xã Đức Hạnh tiến hành kiểm tra, kiểm diện một số đối tượng trên địa bàn xã Đức Hạnh. Khi lực lượng công an đến nhà của Nguyễn Đức V, sinh năm 1981 tại thôn 4, xã Đức Hạnh, huyện Đ thì phát hiện Lê Minh T, sinh năm 1988, trú tại thôn 8, xã Đức Tín, huyện Đ, tỉnh B đang ở trong nhà của V có biểu hiện nghi vấn. Lực lượng công an tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi quần sau bên trái của Lê Minh T 01 đoạn băng keo màu đen bên trong có 01 bịch nylon được hàn kín chứa chất bột màu trắng. Lực lượng công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật.

Tại kết luận giám định số 1041/KLGĐ-PC09, ngày 22/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh B kết luận: Chất bột màu trắng trong bịch nylon có khối lượng 0,1129 gam, là Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSĐL-HS ngày 17/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố Lê Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Minh T mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 0,0467 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1041 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 19/11/2019, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu ngày 19/11/2019, bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 19/11/2019, tại nhà Nguyễn Đức V ở thôn 4, xã Đức Hạnh, huyện Đ Lê Minh T đã có hành vi tàng trữ 0,1129 gam chất ma túy loại Methamphetamine. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy trong T thiếu niên, mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm. Bản thân bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, việc tàng trữ trái phép chất ma túy là nguyên nhân gieo rắc hiểm họa cho cộng đồng vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc nhưng chỉ vì động cơ vụ lợi mà bị cáo đã bất chấp tất cả. Điều đó, chứng tỏ bị cáo là người coi thương pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[2] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Về tiền sự: Bị cáo có một tiền sự về hành vi sử dụng chất ma túy.

Về nhân thân:

Tại bản án số 65/2008/HSST, ngày 23/7/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh B xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại bản án số 04/2010/HSST, ngày 26/01/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh B xử phạt 38 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại bản án số 27/2011/HSST ngày 30/12/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh B xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 30/3/2014 đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhằm giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình là phù hợp.

[3] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, ngoài hình phạt chính cần phạt bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo là phù hợp.

[4] Vật chứng trong vụ án: 0,0467 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1041 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn đỏ của Phong kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. Đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[5] Qúa trình điều tra Lê Minh T khai nhận vào ngày 17/11/2019, Lê Minh T mua của Nguyễn Đạt Hạnh (có tên gọi khác Beo) 01 bịch ma túy để sử dụng hiện nay Nguyễn Đạt Hạnh không có mặt tại địa phương nên chưa làm rõ được hành vi cần tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.

[6] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lê Minh T, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2017):

 Xử phạt bị cáo Lê Minh T 15 (Mười lăm) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt phạm tội quả tang (ngày 19/11/2019).

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017), điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,0467 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1041 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn đỏ của Phong kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. (Hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Lê Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 11/3/2020, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm (đã giải thích quyền kháng cáo).

Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


6
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2020/HS-ST ngày 11/03/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:02/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Linh - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/03/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về