Bản án 02/2020/HNGĐ-ST ngày 19/02/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 02/2020/HNGĐ-ST NGÀY 19/02/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 19 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 391/2019/TLST-HNGĐ ngày 10/12/2019 về việc: “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXX - ST ngày 03 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Ngọc A sinh năm: 1996 Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Anh Phùng Quang T sinh năm: 1988 Nơi ĐKHKTT: Khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Chị A có mặt, còn anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nguyên đơn chị Đặng Thị Ngọc A trình bày: Chị và anh Phùng Quang T xây dựng gia đình với nhau năm 2019 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm về lối sống, về cách nuôi dạy con nên thường xuyên cãi nhau. Cũng đã nhiều lần vợ chồng ngồi lại nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng không được nên dẫn đến không khí trong gia đình lúc nào cũng căng thẳng, mệt mỏi. Do không tìm được biện pháp cải thiện mối quan hệ vợ chồng nên vợ chồng đã tự sống ly thân từ giữa năm 2019 đến nay. Chị A xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Về con chung chị A xác định vợ chồng có một con chung là Phùng Mẫn Bảo Ngọc, sinh ngày 13/5/2019, khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung chị A xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phùng Quang T trình bày: Anh và chị A xây dựng gia đình với nhau năm 2019, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 12/4/2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống đến tháng 6/2019 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm và vợ chồng tự sống ly thân từ tháng 6/2019 đến nay. Chị A yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị A. Về con chung anh T xác định quá trình chung sống có 01 con chung là Phùng Mẫn Bảo Ngọc, sinh ngày 13/5/2019, khi ly hôn anh T đề nghị giao con cho chị A nuôi, anh không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung anh T xác định không có.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt nên không hòa giải được, Tòa án đã tống đạt hợp lệ kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ cho anh T nhưng anh T không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, cụ thể: Thẩm phán, thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên tòa sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đương sự có mặt tại phiên tòa đã chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị A, xử cho chị A được ly hôn với anh T. Về con chung đề nghị giao con chung là Phùng Mẫn Bảo Ngọc, sinh ngày 13/5/2019 cho chị A có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: đề nghị buộc chị A phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Phùng Quang T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 cần xem xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung là phù hợp.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh T tổ chức đám cưới và chung sống với nhau từ cuối năm 2018, đến tháng 4/2019 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến giữa năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nên chị A làm đơn ly hôn. Tại phiên tòa, chị A xác định do vợ chồng không thống nhất trong việc chăm sóc con, anh T không chăm lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình, sử dụng chất kích thích bị Công an xử lý. Ngoài ra, khi chị sinh con anh T còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên cãi nhau và anh T đã đánh chị. Do không tìm được cách giải quyết mâu thuẫn nên vợ chồng đã tự sống ly thân từ giữa năm 2019 cho đến nay, chị A xác định không còn tình cảm với anh T nên Chị A giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Còn anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong lời khai của mình anh T cũng đồng ý ly hôn với chị A. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng của chị A và anh T là do anh chị kết hôn khi cả hai tuổi còn trẻ, suy nghĩ chưa chín chắn nên khi phát sinh mâu thuẫn vợ chồng không tìm được cách hàn gắn tình cảm, các đương sự lại không tin tưởng nhau trong quan hệ tình cảm nên trong lúc nóng giận đã có những lời nói xúc phạm đến lòng tự trọng của nhau, thậm chí còn xảy ra xô xát làm cho mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng. Do không tìm được biện pháp để cải thiện quan hệ vợ chồng nên vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2019, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau. Do đó nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không đem lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị A, xử cho chị A và anh T được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

[3]. Về con chung: Chị A và anh T có một con chung là Phùng Mẫn Bảo Ngọc, sinh ngày 13/5/2019. Khi ly hôn chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, anh T cũng đề nghị giao con cho chị A nuôi khi vợ chồng ly hôn. Xét thấy, cháu Ngọc là con gái lại chưa đủ 36 tháng tuổi, từ khi vợ chồng ly thân thì cháu Ngọc sống với chị A nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con là Phùng Mẫn Bảo Ngọc cho chị A có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Vê viêc câp dương nuôi con , tại phiên tòa chị A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị A phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử :

1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đặng Thị Ngọc A, xử cho chị Đặng Thị Ngọc A và anh Phùng Quang T được ly hôn.

2/ Về con chung: Giao con là Phùng Mẫn Bảo N, sinh ngày 13/5/2019 cho chị Đặng Thị Ngọc A có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Phùng Quang T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3/ Về án phí: Chị Đặng Thị Ngọc A phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số AA/2016/0007061 ngày 06/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị A đã nộp đủ án phí.

Báo cho chị A biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (19/02/2020), còn anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


5
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2020/HNGĐ-ST ngày 19/02/2020 về ly hôn

Số hiệu:02/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lâm Hà - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/02/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về