Bản án 02/2019/KDTM-ST ngày 29/11/2019 về tranh chấp nghĩa vụ thanh toán hợp đồng mua bán hàng hóa

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

BẢN ÁN 02/2019/KDTM-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ TRANH CHẤP NGHĨA VỤ THANH TOÁN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 01/2019/TLST-KDTM ngày 06 tháng 9 năm 2019 về việc “tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-KDTM ngày 01 tháng 11 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2019/QĐST-KDTM ngày 21 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T; địa chỉ trụ sở chính: Tổ 17, thị trấn N, huyện NT, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lương Văn T, Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị Ngọc L, Phó Giám đốc (Văn bản ủy quyền ngày 22-6-2019); Ông Đinh Văn T, Nhân viên của Công ty (Văn bản ủy quyền ngày 25-11-2019); Bà L vắng mặt, ông T có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu P, Luật sư của Văn phòng Luật sư Đ thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: Số 63 đường H, quận HC, thành phố Đà Nẵng; có mặt.

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần A; địa chỉ trụ sở chính: Thôn T, xã H, huyện AL, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ liên lạc: Tầng 6, tháp A, Tòa nhà S, đường P, phường M, quận NTL, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Bùi Minh T, Tổng Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị L, Thành viên Hội đồng quản trị (Văn bản ủy quyền ngày 21-10-2019); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 29-7-2019 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 26-5-2016, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T (sau đây gọi tắt là Công ty Tg) ký với Công ty Cổ phần K, sau này đổi tên là Công ty Cổ phần A (sau đây gọi tắt là Công ty A) hai Hợp đồng kinh tế số: 05/2016/HĐKT/AL-TT và số: 06/2016/HĐKT/AL-TT về việc Công ty A mua đá xây dựng của Công ty T để thi công công trình.

Thc hiện hợp đồng, Công ty T đã cung cấp, vận chuyển khối lượng hàng theo yêu cầu cho Công ty A và đã phát hành 20 Hóa đơn giá trị gia tăng có tổng giá trị là 5.641.230.638 đồng. Công ty A đã thanh toán cho Công ty T giá trị tiền hàng là 3.450.000.000 đồng.

Ngày 31-12-2017, hai bên tiến hành đối chiếu công nợ và Công ty A ký Biên bản đối chiếu công nợ số: 06/2017/TT-BBDC xác nhận còn nợ Công ty T số tiền 2.191.230.638 đồng.

Mặc dù đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng Công ty A không thực hiện. Do đó, Công ty T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty A thanh toán cho Công ty T số tiền còn nợ là 2.191.230.638 đồng (Hai tỷ một trăm chín mươi mốt triệu hai trăm ba mươi nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng).

Tại Bản tự khai ngày 23-10-2019 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là Công ty A do bà Lê Thị L là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Công ty A có ký hai Hợp đồng kinh tế về việc mua bán đá xây dựng, đã nhận hàng, hóa đơn và ký Biên bản đối chiếu công nợ đúng như Công ty T trình bày. Công ty A công nhận còn nợ Công ty T số tiền 2.191.230.638 đồng (Hai tỷ một trăm chín mươi mốt triệu hai trăm ba mươi nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng).

Từ năm 2017, Công ty A gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh nên có chậm trễ trong thanh toán. Hiện tại, Công ty A đang gặp khó khăn về tài chính nên chưa thể trả toàn bộ số tiền nợ cho Công ty T. Do đó, đề nghị tạo điều kiện cho Công ty A thanh toán theo phương thức trả dần với lộ trình thanh toán 200.000.000 đồng trong năm 2019, sau đó mỗi quý trả 10% số tiền còn lại cho đến khi hết nợ.

Tại phiên họp hòa giải ngày 23-10-2019, hai bên thống nhất Công ty A còn nợ Công ty T số tiền 2.191.230.638 đồng (Hai tỷ một trăm chín mươi mốt triệu hai trăm ba mươi nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng) nhưng không thống nhất về việc thanh toán. Các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Ngày 28-11-2019, người đại diện hợp pháp của bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Công ty A thừa nhận còn nợ Công ty T số tiền 2.191.230.638 đồng. Số tiền nợ phát sinh đã quá lâu, ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn nên không chấp nhận đề nghị trả nợ theo lộ trình của bị đơn. Đề nghị xét xử ra bản án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả số tiền nợ 2.191.230.638 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không có mặt đầy đủ trong các lần triệu tập là chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 430, 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 24, 50 của Luật Thương mại năm 2005; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để ra bản án xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T, buộc Công ty Cổ phần A phải thanh toán số tiền 2.191.230.638 đồng (Hai tỷ một trăm chín mươi mốt triệu hai trăm ba mươi nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng); buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng kinh tế đã ký giữa hai công ty, có mục đích lợi nhuận. Theo Hợp đồng kinh tế, Biên bản đối chiếu công nợ, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Văn bản cung cấp thông tin doanh nghiệp của Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh T thì địa chỉ trụ sở chính của bị đơn tại thôn T, xã H, huyện AL, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại Hợp đồng kinh tế, các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Tòa án kinh tế tỉnh Quảng Nam nhưng việc tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nên thỏa thuận trên không phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp nghĩa vụ thanh toán hợp đồng mua bán hàng hóa, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A Lưới theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt bị đơn: Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

[3] Về hợp đồng: Các Hợp đồng kinh tế số: 05/2016/HĐKT/AL-TT và số: 06/2016/HĐKT/AL-TT ngày 26-5-2016 được lập thành văn bản, người ký là Phó Tổng Giám đốc được ủy quyền, có đóng dấu của hai doanh nghiệp, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, phù hợp quy định tại Điều 24 của Luật Thương mại năm 2005 nên có hiệu lực.

Tại thời điểm ký hợp đồng bên mua hàng là Công ty Cổ phần K nhưng quá trình thực hiện hợp đồng đã thực hiện đổi tên doanh nghiệp thành Công ty Cổ phần A, đã đăng ký thay đổi thông tin doanh nghiệp theo Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần thứ 11 ngày 22-8-2017 nên Công ty Cổ phần A có nghĩa vụ thực hiện các hợp đồng đã ký.

[4] Về số tiền nợ và yêu cầu thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ là 2.191.230.638 đồng (Hai tỷ một trăm chín mươi mốt triệu hai trăm ba mươi nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng) phát sinh từ hai Hợp đồng kinh tế đã ký. Tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31-12-2017, bị đơn cũng đã ký xác nhận số tiền nợ trên. Tại bản tự khai và phiên hòa giải ngày 23-10-2019, người đại diện của bị đơn cũng thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền trên. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn không phải chứng minh tình tiết này, Hội đồng xét xử kết luận bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 2.191.230.638 đồng (Hai tỷ một trăm chín mươi mốt triệu hai trăm ba mươi nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng).

Xét thấy số tiền bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn đã quá hạn thanh toán. Bị đơn đề nghị nguyên đơn cho thanh toán số tiền nợ định kỳ hàng quý nhưng nguyên đơn không chấp nhận. Hai bên không có thỏa thuận gì khác về thời hạn thanh toán.

Do đó, căn cứ vào Điều 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 50 của Luật Thương mại năm 2005 cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 2.191.230.638 đồng (Hai tỷ một trăm chín mươi mốt triệu hai trăm ba mươi nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng). Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ, được chấp nhận.

[5] Về tiền lãi chậm thanh toán: Tại Hợp đồng kinh tế, các bên không có thỏa thuận chịu tiền lãi trong trường hợp chậm thanh toán. Nguyên đơn không yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán trước thời điểm xét xử sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi của bên được thanh toán, cần áp dụng khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2017/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để buộc chịu tiền lãi kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có yêu cầu thi hành án.

[6] Về án phí: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 72.000.000 đồng + (phần vượt quá 2.000.000.000 đồng x 2%) = 75.824.612 đồng (Bảy mươi lăm triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm mười hai đồng).

Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.912.500 đồng (Ba mươi bảy triệu chín trăm mười hai nghìn năm trăm đồng).

[7] Về quyền kháng cáo: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ vào khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng các Điều 24, 50 của Luật Thương mại năm 2005; Điều 440, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2017/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T.

Buộc Công ty Cổ phần A phải thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T số tiền 2.191.230.638 đồng (Hai tỷ một trăm chín mươi mốt triệu hai trăm ba mươi nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người phải thi hành án thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí sơ thẩm:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn T không phải chịu án phí; được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.912.500 đồng (Ba mươi bảy triệu chín trăm mười hai nghìn năm trăm đồng) theo Biên lai thu số AA/2013/0042xx ngày 06- 9-2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Công ty Cổ phần A phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 75.824.612 đồng (Bảy mươi lăm triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm mười hai đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.


26
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về