Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 12/04/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con 

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA, TỈNH NGHỆ AN

BN ÁN 02/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/04/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON 

Trong ngày 12 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2018 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15/3/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1990

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An.

Chỗ ở hiện nay: Xóm M, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Bị đơn: Anh Hồ Văn H, sinh năm 1992

Trú tại: xóm B, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 06 tháng 12 năm 2018 và quá trình xét xử tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Văn H kết hôn với nhau vào ngày 01 tháng 4 năm 2016 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau do tính tình không hợp. Có nhiều lần anh H nghe lời mẹ chồng đánh đập chị ngay cả lúc chị đang mang thai. Quan hệ giữa chị V với mẹ chồng cũng không hoà thuận, mẹ chồng và chồng nghi kỵ chị có quan hệ với người đàn ông khác, nên anh H đánh đập chị V do đó chị V đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng ly thân từ tháng 10 năm 2018 đến nay không còn liên lạc quan hệ gì với nhau nữa. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên chị V mong muốn được ly hôn với anh H.

- Về việc nuôi con chung: Chị V trình bày vợ chồng có 01 (một) con chung là Hồ Duy H, sinh ngày 22/9/2016. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn anh Hồ Văn H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh H thống nhất thời gian, địa điểm, điều kiện kết hôn đúng như chị V trình bày và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo anh H là do chị V sống với anh không được hạnh phúc nên đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, không có trách nhiệm với con. Nhưng nay chị V làm đơn xin ly hôn thì anh không đồng ý mà vẫn mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ.

- Về việc nuôi con chung: Anh H trình bày đúng như chị V khai vợ chồng có 01 (một) con chung là Hồ Duy H, sinh ngày 22/9/2016. Nay ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi nộp đơn, thụ lý vụ án cho đến khi xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 5, Điều 19, Điều 51, khoản 1 điều 56, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị V cho chị V được ly hôn anh H.

- Về việc nuôi con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung là Hồ Duy H, sinh ngày 22/9/2016 ( Dưới 36 tháng tuổi). Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu H cho chị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị V không yêu cầu nên không xem xét.

- Về quan hệ tài sản: Vợ chồng không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí : Áp dụng điều 147 - Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án anh H đều chấp hành giấy triệu tập của tòa án và có mặt tham gia viết bản khai và hoà giải đầy đủ. Tuy nhiên đến giai đoạn xét xử Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên toà cho anh H nhưng đến ngày mở phiên toà thì anh H vắng mặt không có lý do. Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa và tống đạt giấy triệu tập phiên tòa thứ hai cho anh H nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Vì vậy theo quy định tại điều 227 BLTTDS Toà án mở phiên toà xét xử vụ án công khai vắng mặt anh H là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Thấy rằng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị V và anh Hồ Văn H là tự nguyện, hợp pháp có đăng ký kết hôn tại uỷ ban nhân dân xã N, huyện N vào ngày 01 tháng 4 năm 2016. Tuy nhiên cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống không phù hợp, anh H nghi ngờ chị V có quan hệ ngoại tìnhvới người đàn ông khác, vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau thì anh H đánh đập chị V, nên chị V về nhà bố mẹ đẻ ở huyện N sống và vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2018 đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa, mỗi người sống một nơi. Toà án đã nhiều lần hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ với nhau nhưng không thành. Nay xét thấy tình trạng vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu của chị V, cho chị V được ly hôn anh H là phù hợp.

[3] Về nuôi con: Xét thấy chị V trình bày vî chång có 01 (một) con chung là Hồ Duy H, sinh ngày 22/9/2016. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con. Anh H cũng có nguyện vọng được nuôi con chung của vợ chồng và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên xét thấy cháu H tính đến nay là tháng 4 năm 2019 thì chỉ mới 02 năm, 07 tháng tuổi nên theo quy định tại khoản 3, điều 81 - Luật Hôn nhân và gia đình thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Do vậy không thể chấp nhận yêu cầu của anh H được mà cần chấp nhận yêu cầu của chị V là giao cho chị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cháu H là đúng quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh H vì chị V không yêu cầu.

[4] Về tài sản: Chị V và anh H không yêu cầu giải quyết về tài sản nên Toà miễn xét.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Về tình cảm: Căn cứ các Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Các Điều 81; 82; 83 - Luật Hôn nhân và gia đình xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị V, cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Hồ Văn H.

- Về nuôi con: Giao cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 01 con chung là Hồ Duy H, sinh ngày 22/9/2016. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Hồ Văn H.

- Về án phí : Áp dụng điều 147 - BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Đã nộp theo biên lai số 0000455 ngày 06 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục thi hành án thị xã Thái Hòa.

- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Hồ Văn H vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản sao bản án hoặc đã được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

103
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 12/04/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con 

Số hiệu:02/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Thái Hòa - Nghệ An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 12/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về