Bản án 02/2018/DSST-ST ngày 10/07/2018 về tranh chấp đòi lại tài sản (đất)

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC - TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 02/2018/DSST-ST NGÀY 10/07/2018 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN (ĐẤT)

Ngày 10 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2018/TLST-DS ngày 12 tháng 02 năm 2018 về tranh chấp "Đòi lại tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1946 Nơi cư trú: xóm N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Có mặt tại phiên tòa).

2. Bị đơn: Ông Lò Văn T, sinh năm 1957 và bà Lày Thị D, sinh năm 1957.

Người được ủy quyền của đồng bị đơn: Ông Lò Văn T1, sinh năm 1985 (Văn bản ủy quyền ngày 05/3/2018).

Cùng cư trú tại: xóm N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Có mặt tại phiên tòa).

3. Người làm chứng: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1975; Nơi cư trú: xóm N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện không ghi ngày, tháng, năm và đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 22/01/2018 nguyên đơn ông Hoàng Văn C trình bày: Ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 079168 ngày 15/12/2005 đối với: thửa đất số 06 thuộc tờ bản đồ số 83, diện tích 1130,8m2. Từ ngày được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ông không xảy ra tranh chấp đối với lô đất này. Vợ chồng ông đã bàn bạc và có dự kiến chia đất tạm thời cho các con. Trên thực tế vợ chồng ông đã chia đất tạm thời cho ba người con trai như sau: Hoàng Văn T2 60m2 (Sáu mươi mét vuông), Hoàng Văn H 103m2 (Một trăm linh ba mét vuông), Hoàng Văn N 60m2 (Sáu mươi mét vuông). Số đất còn lại thuộc quyền quản lý của ông, đất ông tạm thời chia cho các con không liên quan đến đất tranh chấp. Vào tháng 01/2015 (âm lịch) ông Lò Văn T và bà Lày Thị D đã dựng nhà trên đất của ông với diện tích là 350m2 (Ba trăm năm mươi mét vuông), các vị trí tiếp giáp như sau: Phía Đông giáp đất ao của ông; Phía Tây giáp nhà Hoàng Văn H (con trai ông) Phía Nam giáp đường cái; Phía Bắc giáp đường cái.

Tại bản tự khai, các biên bản lấy lời khai ông Hoàng Văn C trình bày: Khi Hoàng Văn H (con trai ông) và Lò Thị T3 (con gái bà Lày Thị D và ông Lò Văn T) mới kết hôn, bà D có xin ông 03 (ba) mét đất ngang mặt đường để làm lán đi lại, ông đồng ý. Số diện tích đất bà D xin ở nhờ không liên quan đến đất tranh chấp ông yêu cầu khởi kiện. Năm 2015 ông T và bà D dựng nhà trên đất của ông đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005, ông có đến nhắc nhở nhưng ông T và bà D vẫn xây nhà. Hiện nay, H và T3 đã ly hôn, T3 làm đơn đến Tòa án khởi kiện H yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn. Ông không thích khởi kiện, nhưng ông phải nhờ Tòa giải quyết, yêu cầu ông T và bà D trả lại đất cho ông. Theo đơn bổ sung đơn khởi kiện, ông yêu ông T và bà D trả lại cho ông 350m2 (Ba trăm năm mươi mét vuông) đất. Số diện tích này do ông ước lượng, không được đo đạc cụ thể.

Tại biên bản xem xét thẩm định ngày 16/5/2018 ông C vẫn khẳng định diện tích 350m2 (Ba trăm năm mươi mét vuông) là do ông ước lượng, không được đo đạc cụ thể. Tại buổi xem xét thẩm định ông C trực tiếp xác định phần tranh chấp để thành phần tiến hành xem xét thẩm định đo đạc trên thực tế. Cụ thể như sau: Hiện trạng đất đang tranh chấp là ngôi nhà 03 (ba) tầng và sân trước ngôi nhà; Kích thước đất đang tranh chấp phía sau ngôi nhà là 8,5m (Tám phẩy năm mét) tiếp giáp đất của ông Lãnh Văn N1; Phía bên cạnh giáp đường giao thông liên xã C có kích thước 20,8m (Hai mươi phẩy tám mét); Phía mặt trước ngôi nhà có kích thước 8,2m (Tám phẩy hai mét) giá p đường giao thông liên xã C; Phía còn lại giáp đất của H – T3; Tổng diện tích là 173,68m2 (Một trăm bảy mươi ba phẩy sáu mươi tám mét vuông).

Tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa ông yêu cầu ông T và bà D trả lại cho ông toàn bộ diện tích đất theo như biên bản xem xét thẩm định hoặc thanh toán cho ông số tiền là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng).

* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai người được ủy quyền của đồng bị đơn ông Lò Văn T1 trình bày: Ông là con của ông Lò Văn T và bà Lày Thị D, là người được ủy quyền của ông T và bà D. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông C. Đất đang tranh chấp đã được ông Hoàng Văn H (con của ông C) tặng cho bố mẹ ông là Lò Văn T và Lày Thị D vào năm 2013, có hồ sơ tặng cho đất, hồ sơ có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Theo hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất, tổng số đất ông H tặng cho bố mẹ ông là 161,1m2 (Một trăm sáu mươi mốt phẩy một mét vuông). Trong đó, ông Hoàng Văn H tặng cho bố mẹ ông phần đất có diện tích 124,7m2 (Một trăm hai mươi tư phẩy bẩy mét vuông), phần đất này ông H được ông Hoàng Văn C chia đất cho các con trai. Ngoài ra, ông H còn tặng cho bố mẹ ông phần đất có diện tích 36,4m2 (Ba mươi tư phẩy sáu mét vuông) phần đất này nằm trong bìa đỏ của ông Hoàng Văn H và bà Lò Thị T3. Sau khi được tặng cho đất, vào tháng 10/2013 bố mẹ ông thuê thợ đến để xây nhà trên diện tích đất này, khi xây nhà không có ai đến ngăn cản, thậm chí ông C còn đến hướng dẫn cách làm mương thoát nước. Ông không biết ông C căn cứ vào đâu để yêu cầu bố mẹ ông phải trả lại cho ông C số diện tích đất là 350m2 (Ba trăm năm mươi mét vuông).

Tại biên bản xem xét thẩm định ngày 16/5/2018 ông xác định: Phần đất đang tranh chấp có 01 (một) ngôi nhà ba tầng và có sân trước lập mái tôn; Diện tích đất đang tranh chấp là 161,1m2 (Một trăm sáu mươi mốt phẩy một mét vuông) theo số liệu đo đạc năm 2013; Các phía tiếp giáp như sau: Phía sau nhà giáp đất của ông Dương Viết L; Phía mặt trước ngôi nhà và bên cạnh liền kề giáp đường giao thông đi xã C; Phía bên cạnh còn lại giáp đất của bà Lò Thị T3.

Tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa ông không đồng ý với yêu cầu trả lại đất hoặc thanh toán số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) của ông C.

* Trong quá trình giải quyết vụ án người làm chứng ông Hoàng Văn H trình bày: Ông là con đẻ của ông Hoàng Văn C, trước đây ông là con rể của ông Lò Văn T và bà Lày Thị D. Vào năm 2013 khi ông và bà Lò Thị T3 còn là vợ chồng ông có tặng cho đất bố mẹ vợ là ông Lò Văn T và bà Lày Thị D, có đến Ủy ban nhân dân thị trấn B, tỉnh Cao Bằng để lập hợp đồng tặng cho đất. Trong phần đất tặng cho bố mẹ vợ có 01 (một) phần đất của bố ông là Hoàng Văn C đã chia cho ông từ năm 2012 và 01 (một) phần đất của vợ chồng ông. Thời điểm hiện nay, ông và bà T3 đã ly hôn, bố ông muốn đòi lại đất tặng cho này, đất là của bố ông, ông không có ý kiến, tất cả do bố ông quyết định.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc chấp hành pháp luật qua kiểm sát hồ sơ từ giai đoạn thụ lý cho đến khi xét xử, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng và đầy đủ pháp luật tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về ý kiến giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về trình tự thủ tục tố tụng: Ông Hoàng Văn C yêu cầu giải quyết vụ án tranh chấp đòi lại tài sản (đất) với ông Lò Văn T và bà Lày Thị D, căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đất đang tranh chấp có địa chỉ tại xóm N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.

[2] Về nội dung vụ án: Năm 2005 ông Hoàng Văn C và bà Hoàng Thị Phày được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 06, tờ bản đồ số 83, diện tích 1130,8m2, địa chỉ thửa đất N, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông C có trình bày ông tạm chia đất cho các con là Hoàng Văn T2, Hoàng Văn H, Hoàng Văn N. Đối với phần đất chia cho các con không liên quan đến đất tranh chấp hiện nay. Tuy nhiên, theo tài liệu chứng cứ ông nộp tại Tòa án theo biên bản giao nhận chứng cứ ngày 01/3/2018 có chứng cứ là: 01 (một) bản photo Kết luận nội dung tố cáo số 485/KL-UBND-TTr ngày 15/9/2015 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc Công chức địa chính thị trấn B tự ý chuyển nhượng số diện tích đất của ông Hoàng Văn C cho ông Lò Văn T1 - N, thị trấn (gọi tắt là kết luận 485). Tại bản Kết luận 485 có nội dung "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 079168 cấp ngày 15/12/2005 thửa đất số 83 có diện tích 1130,8m2, mang tên ông Hoàng Văn C đã chia hết cho các con. Biên bản chia đất ngày 21/10/2012 của ông C đã được Ủy ban nhân dân thị trấn xác nhận ngày 25/8/2013 đã có giá trị làm cơ sở pháp lý cho ông Hoàng Văn H (con trai ông C) đủ điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho … theo Điều 188 của Luật đất đai năm 2013 đã quy định rõ".

Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/4/2018, ông C có trình bày ông không đồng ý với Kết luận 485 và Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng đã giải quyết lại yêu cầu của ông về việc yêu cầu các con trả lại đất cho ông. Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng đã lập biên bản về việc các con đồng ý trả lại đất cho ông.

Ngày 08/6/2018 Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng đã có công văn số 413/CV-TA gửi Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B tỉnh Cao Bằng trao đổi, xác minh về lời khai ngày 02/4/2018 của ông C. Tại công văn số 67/UBND ngày 08/6/2018 của Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng có xác nhận: "Do thiếu kinh nghiệm và chưa nghiên cứu kỹ nên Ủy ban nhân dân thị trấn đã tiến hành lập biên bản ghi nhận việc công dân không đồng ý với kết luận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B. Tuy nhiên, sau khi lập tiến hành biên bản về việc ông C và bà Phấy yêu cầu các con (N, H, T2) trả lại đất và các con đồng ý thì ngày 03/01/2017 ông C có đơn yêu cầu đến Ủy ban nhân dân thị trấn B yêu cầu hủy đơn khiếu nại ngày 30/8/2015, trong đơn ông C viết: "Nhất trí theo nội dung biên bản chia đất cho các con ngày 21/10/2012 theo đo đạc địa chính năm 2013, theo cấp giấy chứng nhận sử dụng đất cấp bìa đỏ ngày 24/8/2015 cho các con" Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng: Năm 2005 ông Hoàng Văn C và bà Hoàng Thị P được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 06, tờ bản đồ số 83, diện tích 1130,8m2, địa chỉ thửa đất N, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 079168 cấp ngày 15/12/2005 thửa đất số 06 có diện tích 1130,8m2, mang tên ông Hoàng Văn C và bà Hoàng Thị P đã chia hết cho các con theo biên bản chia đất ngày 21/10/2012. Cụ thể Hoàng Văn H được chia 504,0m2 Căn cứ vào Điều 167, Điều 188 Luật đất đai 2013, sau khi được cho đất, ông Hoàng Văn H (con ông C) đến Ủy ban nhân dân thị trấn B lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Lò Văn T và bà Lày Thị D là đúng quy quy định của pháp luật. Ông Lò Văn T và bà Lày Thị D sau khi tiếp nhận đất đã sử dụng ổn định và tạo lập tài sản trên đất.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông C yêu cầu ông Lò Văn T và bà Lày Thị D trả lại đất hoặc số tiền tương ứng với giá trị đất là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) do trước đây là thông gia nên đồng ý cho ở, hiện nay không còn là thông gia, T3 khởi kiện đòi tài sản của H nên ông yêu cầu ông T và bà D trả lại đất là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[3] Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nguyên đơn ông Hoàng Văn C phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 167, Điều 188 Luật đất đai 2013;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

1. Không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Hoàng Văn C.

2. Về án phí: Ông Hoàng Văn C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông C đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AB/2012/01090 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Cao Bằng. Ông C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của đồng bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2018/DSST-ST ngày 10/07/2018 về tranh chấp đòi lại tài sản (đất)

Số hiệu:02/2018/DSST-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bảo Lạc - Cao Bằng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về