Bản án 02/2017/HNGĐ-ST ngày 31/08/2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA – TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 02/2017/HNGĐ-ST NGÀY 31/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 31 tháng 8 năm 2017. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa. Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, Thanh Hóa đã đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 27/2017/TLST – HNGĐ, ngày 08/5/2017 về việc “Tranh cháp hôn nhân gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2017/QĐST – HNGĐ, ngày 24 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Hà Thị T – sinh năm 1989;

Địa chỉ: bản N, xã NX, huyện QH, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt);

2. Bị đơn: Lộc Văn Th – sinh năm 1985;

Địa chỉ: bản N, xã NX, huyện QH, tỉnh Thanh Hóa;(có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 03/5/2017 của chị Hà Thị T là nguyên đơn và các bản tự khai của đương sự, các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

* Về hôn nhân: Nguyên đơn Hà Thị Th và bị đơn Lộc Văn Th kết hôn với nhau vào năm 2013, trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, thật sự yêu thương nhau và không bị ai ép buộc được hai bên 2 gia đình đồng ý, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NX, huyện QH vào ngày 15/7/2013. Sau khi lấy nhau về vợ chồng chung sống hạnh phúc, tháng 8 năm 2014 thì tình cảm vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn tình cảm vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm, suy nghĩ, cách sống của mỗi người là khác nhau, không thông cảm cho nhau nên không tìm thấy sự hòa hợp trong đời sống vợ chồng; nguyên đơn cho rằng bị đơn Lộc Văn Th sống không có trách nhiệm với gia đình, không tu trí làm ăn, uống rượu rồi về chửi bới, đánh đập xúc phạm vợ con. Mâu thuẫn tình cảm vợ chồng đã được 2 bên gia đình dàn xếp, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2016 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa.

Trước tình trạng mâu thuẫn tình cảm vợ chồng như vậy, hiện nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy nguyên đơn Hà Thị T đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, Thanh Hóa giải quyết cho chị được ly hôn với bị đơn Lộc Văn Th.

*Về con cái: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung, tên cháu là Lộc Nguyên K – sinh ngày 28/7/2013, hiện nay cháu K đang ở với anh Th tại bản NC, xã NX, huyện QH. Do anh Th hay uống rượu, thiếu sự quan tâm chăm sóc con cái, nếu để cho cháu K ở với anh Th thì sẽ không bảo đảm đầy đủ các điều kiện phát triển của con. Vì vậy nguyên đơn Hà Thị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lộc Nguyên K cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành(đủ 18 tuổi), nguyên đơn không đề nghị bị đơn Lộc Văn Th cấp dưỡng nuôi con chung.

*Về tài sản và công nợ: Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ vợ chồng không có gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn Lộc Văn Th tại các bản tự khai ngày 23/5 và 14/6/2017 và các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án anh Theo trình bày:

* Về hôn nhân: Anh thừa nhận như nội dung cô T trình bày, tuy nhiên mâu thuẫn tình cảm vợ chồng hoàn toàn không phải lỗi của anh mà trong dạn nứt tình cảm vợ chồng cũng có một phần lỗi của cô T đó là: Cô T sống không chung thủy, không quan tâm đến gia đình, bản thân anh đã nhiều lần động viên khuyên nhủ nhưng cô T không nghe dẫn đến vợ chồng cải cọ, xô sát; cho đến thời điểm hiện nay anh thấy cô T là người sống không có trách nhiệm với gia đình và tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể đoàn tụ do vậy anh cũng đồng ý đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với cô T.

*Về con cái: Bị đơn thừa nhận vợ chồng có 01 con chung như chị T trình bày, hiện nay cháu Lộc Nguyên K đang ở với anh ở bản NC, xã NX, huyện QH. Do cô T không quan tâm đến con cái, bỏ mặc cháu K cho một mình anh chăm sóc, hơn nữa điều kiện chăm sóc cháu K của anh hơn hẳn so với cô T, vì vậy anh không đồng ý với ý kiến của cô T về việc nuôi con; anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lộc Nguyên K cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và anh không đề nghị cô T cấp dưỡng nuôi con chung.

*Về tài sản và công nợ: bị đơn Lộc Văn Th nhất trí với ý kiến của nguyên đơn về vấn đề này.

*Ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có thiếu sót vi phạm gì.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 55,81,82,83 Luật hôn nhân gia đình 2014; Khoản 2 Điều 21, Điều 28, Điều 35 khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273,278 BLTTDS 2015; Điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Hà Thị T, nguyên đơn Hà Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả thảo luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Hà Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con với anh Lộc Văn Th. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2.Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn Lộc Văn Th có nơi cư trú tại bản NC, xã NX, huyện QH, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa có thẩm quyền giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

2.1Về hôn nhân: Hà Thị T và Lộc Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 15/7/2013 tại Ủy ban nhân dân xã NX, huyện QH, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2016 đến nay. Chị T xin ly hôn, anh Th nhất trí. Hội đồng xét xử nhận thấy việc thuận tình ly hôn giữa chị T và anh Th là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình. Công nhận thuận tình ly hôn của chị T và anh Th.

2.2.Về con cái: Vợ chồng có 01 con chung Lộc Nguyên K như vợ chồng đã thống nhất ở trên. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay cả nguyên đơn Hà Thị T và bị đơn Lộc Văn Th đều có nguyện vọng được nuôi con con. Hội đồng xét xử nhận thấy cả anh Th và chị T đều có đủ điều kiện để nuôi con. Tuy nhiên, căn cứ thực tế điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của nguyên đơn tốt hơn so với bị đơn, cháu K đang trong giai đoạn phát triển quan trọng về thể chất và tinh thần, cần có sự gần gủi, quan tâm chăm sóc trực tiếp từ người mẹ để bảo đảm sự phát triển cho cháu về mọi mặt. Chị T có thu nhập cao hơn so với anh Th, căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, để đảm bảo tốt nhất các điều kiện ăn, ở, học tập và sự phát triển của cháu về thể lực, trí lực thì việc giao cháu Lộc Nguyên K cho nguyên đơn Hà Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Từ những căn cứ phân tích nêu trên, xét về các điều kiện để nuôi dưỡng chăm sóc, nuôi dạy con cái thì giao cháu Lộc Nguyên K cho chị T nuôi dưỡng là cần thiết để cháu hoàn thiện cả về thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy xem xét giao cháu Lộc Nguyên K cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị T không yêu cầu.

2.3. Về tài sản, công nợ: Chị T và anh Th đều khai không có nên HĐXX không xem xét giải quyết.

2.4.Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Nguyên đơn Hà Thị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 55,81,82,83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điều 147; Điều 271, 273 và 278 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1.Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Lộc Văn Th.

2.Về con cái: Giao cháu Lộc Nguyên K – sinh ngày 28/7/2013 cho chị Hà Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi; anh Th không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc cháu Lộc Nguyên K, không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết các bên được làm đơn xin thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

3.Về tài sản, công nợ: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

4.Về án phí và các vấn đề khác: Nguyên đơn Hà Thị T phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự - HNGĐ sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2015/ 0004102, ngày 05/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa, Thanh Hóa. Nguyên đơn Hà Thị T đã thi hành xong về phần án phí.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


77
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2017/HNGĐ-ST ngày 31/08/2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:02/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quan Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về