Bản án 02/2017/HNGĐ-ST ngày 24/02/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 02/2017/HNGĐ-ST NGÀY 24/02/2017 VỀ LY HÔN 

Ngày 24/02/2017, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 103/2016/TLST-HNGĐ ngày 18/11/2016 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Hồ Văn D, sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đinh Trọng H – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Trị; Có mặt.

Bị đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1986; Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Chổ ở hiện nay: Đội 5, thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Ninh Bình; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 08/11/2016, nguyên đơn anh Hồ Văn D trình bày: Anh Hồ Văn D và chị Phạm Thị T tự nguyện yêu nhau và đăng ký kết hôn năm 2007 tại Uỷ ban nhân dân xã Húc, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, chị T đã bỏ đi khỏi nhà, không có trách nhiệm với con cái, vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng đã mâu thuẩn, không còn hạnh phúc nên anh D yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: cháu Hồ Văn D, sinh ngày 02/01/2010; cháu Hồ Thị C, sinh ngày 06/12/2011. Nếu ly hôn, anh D có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh Hồ Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn chị Phạm Thị T trình bày:

Về tình cảm: Chị T và anh D đăng ký kết hôn với nhau năm 2007 tại UBND xã Húc, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn tình cảm vợ chồng là do anh D đánh đập chị T nên chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh D.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Hồ Văn D, sinh ngày 02/01/2010; cháu Hồ Thị C, sinh ngày 06/12/2011. Sau khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi cháu C còn giao cháu D cho anh D nuôi và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hồ Văn D và chị Phạm Thị T đăng ký kết hôn là tự nguyện, đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, hiện vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc thuận tình ly hôn của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật nên áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình để công nhận thuận tình ly hôn giữa anh D và chị T.

Về con chung: Anh D và chị T có 02 con chung là: cháu Hồ Văn D, sinh ngày 02/01/2010; cháu Hồ Thị C, sinh ngày 06/12/2011, hiện các cháu đang ở với anh D. Anh D có nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Để chứng minh cho yêu cầu được nuôi cả hai con sau khi ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án, anh D nộp cho Tòa án tài liệu gồm giấy ủy quyền ngày 17/8/2015 có nội Dg chị T tạm thời ủy quyền cho anh D được toàn quyền nuôi dưỡng hai con đến khi có quyết định chính thức của Tòa án về việc ly hôn của vợ chồng và đơn trình bày của anh D ngày 07/02/2017 ghi nghề nghiệp của anh D là xoa bóp, bấm huyệt thu nhập mỗi tháng 6.000.000đ.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của vợ chồng. Căn cứ vào điều kiện, khả năng của vợ chồng và các quy định của pháp luật để giao con cho vợ chồng chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn nhằm đảm bảo quyền lợi của các con.

Bị đơn chị Phạm Thị T có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hồ Thị C, giao cháu Hồ Văn D cho anh D chăm sóc, nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy: Anh Hồ Văn D bị bệnh lý về mắt nên việc đi lại, sinh hoạt, làm ăn gặp khó khăn, anh D làm nghề xoa bóp, bấm huyệt tại tỉnh Quảng Ninh. Anh D trình bày, sau khi ly hôn sẽ giao hai con cho bố mẹ anh D chăm sóc. Chị T làm nghề nông nghiệp, thu nhập bình quân mỗi tháng 3.500.000đ có xác nhận của UBND xã Ninh Khang, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (đơn xin xác nhận ngày 15/02/2017). Căn cứ vào điều kiện, khả năng của vợ chồng nếu giao cả hai con cho anh D nuôi dưỡng là không đảm bảo cho các cháu phát triển tốt nên cần giao cháu D cho anh D nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng của cháu D còn giao cháu C cho chị T nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Buộc anh D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 235, 266, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 8 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hồ Văn D và chị Phạm Thị T.

Về con chung: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hồ Văn D:

Giao cháu Hồ Văn D, sinh ngày 02/01/2010 cho anh Hồ Văn D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Giao cháu Hồ Thị C, sinh ngày 06/12/2011 cho chị Phạm Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hồ Văn D và chị Phạm Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Anh Hồ Văn D và chị Phạm Thị T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Hồ Văn D phải chịu 100.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2014/0006816 ngày 18/11/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hoá, Quảng Trị. Anh Hồ Văn D được hoàn trả số tiền chênh lệch còn lại là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

Chị Phạm Thị T phải chịu 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

2. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/02/2017).


80
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 02/2017/HNGĐ-ST ngày 24/02/2017 về ly hôn

    Số hiệu:02/2017/HNGĐ-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hướng Hóa - Quảng Trị
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:24/02/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Án lệ được căn cứ
           
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về