Bản án 02/2017/HNGĐ-ST ngày 20/12/2017 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 02/2017/HNGĐ-ST NGÀY 20/12/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 20 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2017/TLST - HNGĐ ngày 8-11-2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2017/QĐST- HNGĐ, ngày 04-12-2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:  Chị Quàng Thị S; Sinh năm: 1986;

Địa chỉ: Bản C, xã Q, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Có mặt tại phiên tòa

Bị đơn: Anh Tòng Văn Đ; Sinh năm: 1994;

Địa chỉ: Bản N, xã CB, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Đang chấp hành án phạt tù tại: K1, Đội 25 Trại giam Thanh Xuân. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 6-11-2017 và tại bản khai bổ sung tại Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Nguyên đơn chị Quàng Thị S trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Tòng Văn Đ kết hôn với nhau từ ngày 10-01-2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hoà thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa hợp về tình cảm, bất đồng trong quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không được. Anh Tòng Văn Đ nghiện ma túy, không chịu làm ăn chăm sóc vợ con và đã bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 ( ba mươi) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, hiện nay đang thị hình tại Trại giam Thanh Xuân. Nay chị Quàng Thị S xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tòng Văn Đ.

Về con chung: Trong thời chung sống anh, chị có một con chung: Cháu Tòng Thị Thùy C, sinh ngày 04-11-2013. Nay ly hôn nguyện vọng của chị Quàng Thị S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Tòng Thị Thùy C đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh Tòng Văn Định phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai của anh Tòng Văn Đ là bị đơn ( do Tòa án tiền hành thu thập) đối với yêu cầu của nguyên đơn chị Quàng Thị S

Về hôn nhân: Anh chị kết hôn với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Anh cho rằng quá trình chung sống anh chị không xảy ra mâu thuẫn gì. Nay chị Quàng Thị S yêu cầu xin ly hôn anh không nhất trí.

Về con chung: Anh Tòng Văn Đ thừa nhận trong thời chung sống anh, chị có một con chung: Cháu Tòng Thị Thùy C, sinh ngày 04-11-2013. Nay anh đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Xuân do vậy anh nhất trí để cháu Tòng Thị Thùy C cho chị Quàng Thị S trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cháu đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, anh chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Tòng Văn Đ đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Xuân nên không thể có mặt tại phiên tòa để giải quyết vụ việc và anh có đơn đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt anh, có xác nhận của Trại giam Thanh Xuân nơi anh đang thụ hình.

Tại phiên tòa  nguyên đơn chị Quàng Thị S vẫn giữ nguyên yêu cầu xin lyhôn với anh Tòng Văn Đ. Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cháu Tòng Thị Thùy C đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh Tòng Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía nguyên đơn chị Quàng Thị S đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Tòng Văn Đ do đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Xuân và đã có đơn xin giải quyết vắng. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng điểm 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị:

1. Về hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Quàng Thị S  được ly hôn với anh Tòng Văn Đ.

2. Về con chung: Đề nghị xử giao cháu Tòng Thị Thùy C, sinh ngày 04-11- 2013 cho chị Quàng Thị S được trực tiếp được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Tòng Văn Đ chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Tòng Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3.Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5.Về án phí: Gia đình chị Quàng Thị S có giấy chứng nhận hộ nghèo năm 2017. Do vậy đề nghị miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Quàng Thị S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Tòng Văn Đ đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Xuân nên không thể có mặt tại phiên tòa để giải quyết vụ việc và anh có đơn đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt anh, có xác nhận của Trại giam Thanh Xuân nơi anh đang thụ hình.  Căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

2]. Về hôn nhân: Chị  Quàng Thị S và anh Tòng Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên vào ngày 10-01-2014 đúng theo quy định của pháp luật. Quan hệ hôn nhân giữa chị Quàng Thị S và anh Tòng Văn Đ là hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên trong quá trình chung sống hành phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Chị Quàng Thị S cho rằng anh Tòng Văn Đ không quan tâm chăm lo cho gia đình, ngoài ra anh còn nghiện ma túy và đã bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 ( ba mươi) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, hiện nay đang thụ hình tại Trại giam Thanh Xuân. Chị Quàng Thị S có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Tòng Văn Đ. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị Quàng Thị S và anh Tòng Văn Đ tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xử cho chị Quàng Thị S được ly hôn với anh Tòng Văn Đ. Căn cứ vào Điều 51; Điều 56  Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Trong thời chung sống anh, chị có một con chung là cháu Tòng Thị Thùy C, sinh ngày 04-11-2013. Nay ly hôn chị Quàng Thị S có nguyện vọng là được trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh Tòng Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, xem xét tình hình thực tế của chị Quàng Thị S có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hàng ngày. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Tòng Thị Thùy C cho chị Quàng Thị S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cháu là hợp tình, hợp lý và cũng để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu về ăn mặc, học hành cùng những điều kiện khác cho sự phát triển thể chất và tinh thần của cháu. Hơn nữa hiện nay anh Tòng Văn Đ đang chấp hành án do vậy cũng không có đủ điều khiện để nuôi dưỡng con chung. Chị Quàng Thị S không yêu cầu anh Tòng Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ cần được chấp nhận. Anh Tòng Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Căn cứ Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

[4]. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5]. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6].Về án phí: Gia đình chị Quàng Thị S có giấy chứng nhận hộ nghèo năm 2017  và chị S có đơn đề nghị xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí. Do vậy Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự cho chị Quàng Thị S. Vận dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51,Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị S được ly hôn với anh Tòng Văn Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Tòng Thị Thùy C, sinh ngày 04-11-2013 cho chị Quàng Thị S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Tòng Thị Thùy C cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Tòng Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Tòng Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự cho chị Quàng Thị S. Chị Quàng Thị S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Tòng Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo thủ tục hợp lệ.


62
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2017/HNGĐ-ST ngày 20/12/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:02/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về