Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 23/02/2021 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 23/02/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 1 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 1 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 29/01/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Quàng Thị H; Sinh năm 1992 Nơi cư trú: Bản Y, xã M, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt có lý do)

2. Bị đơn: Anh Lò Văn D; sinh năm 1992 Nơi cư trú: Bản C, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt tại phiên tòa).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên.

Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 07 tháng 10 năm 2020 và bản tự khai ngày 16/10/2020 (bút lục số 30) nguyên đơn chị Quàng Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Tôi và anh Lò Văn D có đăng ký kết hôn ngày 27/7/2012 tại UBND xã M, huyện Đ (nay là thành phố Điện Biên Phủ), tỉnh Điện Biên. Trước khi kết hôn hai chúng tôi tự tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau mà không có sự tác động ép buộc từ bên ngoài. Quá trình chung sống tôi phát hiện anh D nghiện chất ma túy. Tôi và gia đình hai bên có khuyên bảo nhưng anh D vẫn không thay đổi. Từ tháng 3/2013 đến nay tôi và anh D sống ly thân. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được để đảm bảo cuộc sống hạnh phúc sau này. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lò Văn D.

Về con chung: Tôi và anh Lò Văn D không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ phải trả, nợ thu về: Tôi và anh D không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Anh Lò Văn D được triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt.

Tại phiên tòa: Bà Bà Nguyễn Thị P - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo đơn khởi khiện của chị Quàng Thị H.

Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng:

Về thủ tục: Quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, Tống đạt các văn bản tố tụng.

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị H và anh Lò Văn D có đăng ký kết hôn ngày 27/7/2012 tại UBND xã M, huyện Đ (nay là thành phố Điện Biên Phủ), tỉnh Điện Biên. Trước khi kết hôn với nhau hai bên tự tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự ép buộc và tác động từ bên ngoài. Từ khi lấy nhau chị H, anh D chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát phát hiện anh D nghiện chất ma túy. Mặc dù được 2 bên gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không thành, anh chị đã sống ly thân đã lâu, không còn chăm sóc quan tâm đến nhau. Nên áp dụng khoản 1 điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình; Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu của chị H, tuyên xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn với anh Lò Văn D.

Về con chung: Chị H, anh D không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; tài sản riêng; nợ chung: Chị Quàng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cụ thể:

+ Tài sản chung của vợ chồng: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

+ Tài sản riêng: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

+ Nợ phải trả; nợ lấy về: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết). Nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về án phí: Chị Quàng Thị H là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn áp phí. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Quàng Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân huyện Mường Ảng theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 08/10/2020 Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án dân sự về “Ly hôn” giữa nguyên đơn là chị Quàng Thị H và bị đơn anh Lò Văn D. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án, tiến hành gửi chuyển phát, anh D đã ký nhận. Hết thời hạn 15 ngày bị đơn anh Lò Văn D không có ý kiến gì.

Tòa án ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, Tòa án ra Thông báo hòa giải lần 2 đã tiến hành gửi chuyển phát, anh D đã ký nhận nhưng 02 buổi hòa giải anh D không đến tham gia hòa giải. Do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 28/9/2020, Nguyên đơn là chị Quàng Thị H có mặt, bị đơn là anh Lò Văn D vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vào ngày 23/02/2021.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn là chị Quàng Thị H vắng mặt có lý do (Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt); Bị đơn là anh Lò Văn D vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, xét thấy bị đơn là anh Lò Văn D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời không có đơn phản tố. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị H và anh D.

Theo nội dung đơn xin ly hôn đề ngày 07/10/2020, lời trình bày của chị Quàng Thị H tại bản tự khai cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay. Hội đồng xét xử xét thấy:

[2]. Về hôn nhân: Chị Quàng Thị H và anh Lò Văn D lấy nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn 27/7/2012 tại UBND xã M, huyện Đ (nay là thành phố Điện Biên Phủ), tỉnh Điện Biên. Sau khi kết hôn chị H và anh D chung sống hạnh phúc, sau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh D nghiện chất ma túy. Đỉnh điểm mâu thuẫn vợ chồng, từ tháng 10 năm 2013 đến nay anh chị đã sống ly thân, không quan tâm chăm sóc nhau. Xét thấy, vợ chồng anh chị không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H. Tuyên xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn với anh Lò Văn D.

[3]. Về con chung: Chị H, anh D không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4]. Về tài sản chung; tài sản riêng; nợ chung:

Theo nội dung đơn xin ly hôn, trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa ngày hôm nay chị Quàng Thị H không yêu cầu giải quyết. Cụ thể:

+ Tài sản chung của vợ chồng: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

+ Tài sản riêng: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết).

+ Nợ phải trả; nợ lấy về: Không có (không yêu cầu tòa án giải quyết). Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Ý kiến của Kiểm sát viên và người bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn tại phiên tòa yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Quàng Thị H là phù hợp nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[5]. Về án phí: Xét thấy chị Quàng Thị H là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn áp phí, miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị H.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của BLTTDS 2015.

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Quàng Thị H ly hôn anh Lò Văn D.

2. Về con chung: Không có, chị Quàng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3.Về tài sản chung; tài sản riêng; nợ chung: Không có, chị Quàng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Quàng Thị H.

Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Báo cho các đương sự vắng mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người vắng mặt.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 23/02/2021 về ly hôn

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường Ảng - Điện Biên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:23/02/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về