Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 20/01/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 20/01/2021 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 20 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2020/QĐST- HNGĐ ngày 23/12/2020, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Trương Thị H; Sinh năm: 1982 Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

-Bị đơn: Anh Trương Quốc V; Sinh năm: 1979 Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/09/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trương Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trương Quốc V kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/08/2008 tại Ủy ban nhân dân (Sau đây viết tắt là UBND) xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng hoà thuận được 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống, không tin tưởng nhau nên thường xuyên sảy ra cãi cọ không thể tiếp tục sống chung cùng nhau được nữa. Hai bên gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng vẫn không được. Hiện tại, chị và anh V đã sống ly thân được 02 năm, không còn quan hệ tình cảm với nhau nữa. Nay chị xét thấy giữa hai vợ chồng tình cảm đã hết, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Trương Quốc A, sinh ngày 23/02/2008 và Trương Quốc H, sinh ngày 13/4/2013. Ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai đề ngày 15/12/2020, anh Trương Quốc V trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Trương Thị H kết hôn tự nguyên, có đăng ký kết hôn ngày 12/08/2008 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận bình thường. Trong cuộc sống, đôi lúc cũng có sảy ra mâu thuẫn nhưng chỉ là nhưng mâu thuẫn nhỏ mà vợ chồng nào cũng gặp phải. Chị H không thông cảm mà đã đưa con về nhà ngoại từ 02 năm nay. Anh đã nhiều lần động viên chị H quay về để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị H không chịu về. Nay chị H làm đơn ly hôn với anh, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, chưa đến mức phải ly hôn nên đề nghị Tòa án hòa giải cho anh và chị H được đoàn tụ.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trương Quốc A, sinh ngày 23/02/2008 và Trương Quốc H, sinh ngày 13/4/2013. Do anh không đồng ý ly hôn nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết về vấn đề con cái.

Về tài sản: Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình còn bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị H được ly hôn anh Trương Quốc V; Về con chung: Giao cháu Trương Quốc A, sinh ngày 23/02/2008 và Trương Quốc H, sinh ngày 13/4/2013 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.

[2]. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh V không có mặt nên tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh V theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.

[3]. Anh V đã được thông báo hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS.

[4]. Tại phiên tòa, chị H vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh V và chị H.

[5]. Về hôn nhân: Chị Trương Thị H và anh Trương Quốc V kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/08/2008 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng chung sống hoà thuận được 7 năm thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ không thể tiếp tục sống chung được nữa. Hai bên gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng vẫn không được. Chị H đã về nhà bố mẹ đẻ hơn 02 năm nay, vợ chồng không còn quan hệ tình cảm với nhau nữa. Việc này, đã được UBND xã T xác nhận và cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương. Nay chị H nhất quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh V chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Trương Thị H được ly hôn anh Trương Quốc V.

[6]. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì hai cháu luôn ở với mẹ, bản thân cháu có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu A và cháu H cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

[7]. Về tài sản: Chị H và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[8]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 BLTTDS; Điều 6; Khoản 1 Điều 24; Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị H được ly hôn anh Trương Quốc V.

2. Về con chung: Giao cháu Trương Quốc A, sinh ngày 23/02/2008 và Trương Quốc H, sinh ngày 13/4/2013 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

Anh V có quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trương Thị H chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị H đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự Thạch Thành, theo biên lai số: AA/2018/0002868; Ngày 25/9/2020. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Trương Thị H và anh Trương Quốc V.

Chị H và anh V có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 20/01/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thạch Thành - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về