Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 19/01/2021 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 19/01/2021 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 19 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 146/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2020 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXX-ST ngày 11 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Trâm O, sinh năm 1991 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Vĩnh T, sinh năm 1986 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị Trâm O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và Anh Nguyễn Vĩnh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông vào ngày 14/12/2017, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Lê Xoan T, sinh ngày 17/6/2019, hiện cháu đang sinh sống cùng chị.

Về tài sản chung và công nợ: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Trong cuộc sống hôn nhân hai bên bất đồng quan điểm sống, hay xảy ra cải nhau, anh T không quan tâm, lo lắng đến gia đình, chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, nhận thấy cuộc sống chung không còn hạnh phúc, do đó chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau: Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với Anh Nguyễn Vĩnh T; Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Có nguyện được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Lê Xoan T, sinh ngày 17/6/2019 và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, công nợ: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo nội dung lời khai của Anh Nguyễn Vĩnh T trong quá trình giải quyết vụ án: Đối với bị đơn Anh Nguyễn Vĩnh T, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh T, tuy nhiên anh T cố tình trốn tránh không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án xin ly hôn với chị O.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

*/ Về tố tụng: Xác định việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn vi phạm Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

*/ Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị Trâm O, chị Lê Thị Trâm O được ly hôn với Anh Nguyễn Vĩnh T.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Xoan T, sinh ngày 17/6/2019 cho chị Lê Thị Trâm O được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Trà đủ 18 tuổi trưởng thành.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

- Về tài sản chung và công nợ: Không có nên không đặt ra để giải quyết.

- Về án phí: Chị Lê Thị Trâm O phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án xin ly hôn, bị đơn Anh Nguyễn Vĩnh T có địa chỉ tại Thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Do đó việc Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông thụ lý và giải quyết là đúng quy định tại Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với nguyên đơn chị Lê Thị Trâm O trong quá trình giải quyết vụ án đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn Anh Nguyễn Vĩnh T, sau khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử, mặc dù đã hai lần được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng anh T vắng mặt không có lý do chính đáng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Mặt khác sự vắng mặt của anh T đã không cung cấp được cho Tòa án chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và phản bác lại đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Vì vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 91 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, anh T phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, do đó Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tiến hành mở phiên tòa để xét xử vụ án vắng mặt Anh Nguyễn Vĩnh T.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Trâm O:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Trâm O và Anh Nguyễn Vĩnh T có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, thời gian đầu hai bên chung sống hạnh phúc với nhau, về sau thì hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống, hay xảy ra cải nhau, anh T không quan tâm, lo lắng đến gia đình, chị và anh T đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Trong quá trình lấy lời khai chị O thừa nhận không còn tình cảm với anh T và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống vì hôn nhân vợ chồng không đạt được mục đích.

Xét thấy chị O và anh T đã sống ly thân với nhau, điều đó thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy để giải phóng cho hôn nhân không còn mục đích, Hội đồng xét xử nghĩ cần căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho ly hôn giữa chị Lê Thị Trâm O và Anh Nguyễn Vĩnh T là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị O có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Lê Xoan T, sinh ngày 17/6/2019, điều này thể hiện trách nhiệm của người làm cha, làm mẹ đối với con cái, hiện cháu Trà dưới 36 tháng tuổi, do đó cần sự chăm sóc của mẹ sẽ giúp cháu phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, mặt khác hiện chị O đang là người trực tiếp chăm sóc cho cháu Trà, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Nguyễn Lê Xoan T cho chị Lê Thị Trâm O được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra để giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Lê Thị Trâm O phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Trâm O về việc xin ly hôn với Anh Nguyễn Vĩnh T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Xoan T, sinh ngày 17/6/2019 cho chị Lê Thị Trâm O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, đến khi cháu Trà đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Vĩnh T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, chị O không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110; Điều 117; Điều 118 và Điều 119 Luật HNGĐ năm 2014.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 144; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Lê Thị Trâm O phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm trong ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003669 ngày 21/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 19/01/2021 về xin ly hôn

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Mil - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về