Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 12/01/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG P, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 12/01/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 12 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Kim Thị H, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số 99/5, ấp 5, thị trấn Long P, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Sơn Thanh V, sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp Nước Mặn 1, xã Long P, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 11/8/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Kim Thị H trình bày:

Vào năm 2018, bà và ông V có kết hôn với nhau, kết hôn trên cơ sở do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 23/01/2018 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Long P, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng. Chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng thường xuyên cải vã, đời sống vợ chồng không hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Sơn Thanh V.

Trong thời gian chung sống bà và ông V có một người con chung tên Sơn Thị Trúc My, sinh ngày 10/11/2018. Hiện nay cháu My đang sống với bà. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu My và không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con.

Trong quá trình chung sống bà và ông V không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Kim Thị H.

+ Về con chung: Giao con chung tên Sơn Thị Trúc My, sinh ngày 10/11/2018 cho bà Kim Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng và ông V không cấp dưỡng nuôi.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hoa xác định trong thời gian chung sống không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ông Sơn Thanh V mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Sơn Thanh V.

[2] Về hôn nhân: Bà Kim Thị H và ông Sơn Thanh V có đăng ký kết hôn vào ngày 23/01/2018 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Long P. Hôn nhân của bà Hoa và ông V tuân thủ các quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Hoa và ông V là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bà Hoa vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án xin được ly hôn với ông V. Xét yêu cầu của bà Hoa Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng về những sinh hoạt trong cuộc sống. Từ khi nguyên đơn chính thức yêu cầu xin ly hôn cho đến nay, Tòa án đã gởi thông báo về việc thụ lý cho ông V nhưng không có văn bản phúc đáp và giữa bà Hoa, ông V từ khi sống ly thân vào năm 2018 cho đến nay nhưng hai bên không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và phù hợp với biên bản xác minh ngày 10/8/2020 về tình trạng hôn nhân giữa bà Hoa, ông V của Tòa án nhân dân huyện Long P. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Hoa, ông V đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Hoa được ly hôn với ông V là có căn cứ.

[3] Về con chung: Bà Hoa yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Sơn Thị Trúc My, sinh ngày 10/11/2018. Xét thấy, hiện nay cháu My đang sống với bà Hoa và cháu My dưới 36 tháng tuổi và để ổn định cuộc sống, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu. Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Hoa là người được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Sơn Thị Trúc My, sinh ngày 10/11/2018 là có căn cứ.

Ông V có quyền thăm nom cháu Sơn Thị Trúc My, sinh ngày 10/11/2018 không ai được cản trở theo khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà Hoa cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Sơn Thị Trúc My, sinh ngày 10/11/2018 theo khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Hoa yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Hoa cho rằng trong thời gian chung sống bà Hoa, ông V không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết là có căn cứ.

[6]. Về án phí: Bà Hoa phải chịu án phí theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Ông V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[7]. Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Kim Thị H và ông Sơn Thanh V được ly hôn.

2. Về con chung: Bà Kim Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Sơn Thị Trúc My, sinh ngày 10/11/2018. Ông Sơn Thanh V có quyền thăm nom cháu Sơn Thị Trúc My không ai được cản trở.

Bà Kim Thị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Sơn Thanh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Sơn Thị Trúc My 3. Ông Sơn Thanh V không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Kim Thị H không yêu cầu.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không có và các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Kim Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2017/0005966 ngày 11/8/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Kim Thị H đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Sơn Thanh V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


29
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 12/01/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Phú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về