Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 11/01/2021 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 11/01/2021 VỀ LY HÔN

Trong ngày 11/01/2021, tại trụ sở TAND thành phố Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 403/2020/TLST – HNGĐ ngày 21/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2020/ QĐXXST- HNGĐ ngày 17/12/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2020/QĐST- HNGĐ ngày 28/12/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1983 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) Địa chỉ: Số 32, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh G.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982 (vắng mặt) Địa chỉ: Tổ 8, Phường T, thành phố B, tỉnh G.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là anh Nguyễn Hoàng H trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn ngày 14/12/2007 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do chị T khó sinh con. Từ năm 2017 chị Tra Hà Nội làm cuối tuần mới về thăm nhà nên vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2019 đến nay. Hiện nay, mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, tình yêu và hạnh phúc không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Anh và chị Tchưa có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng: Anh và chị Tkhông có tài sản chung, không có nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 05/11/2019, bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ chị Nguyễn Thị T cung cấp: Bà là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị T. Chị Tkết hôn với Anh Hnăm 2007, sau khi kết hôn thì về chung sống với anh Hải. Do vợ chồng gặp khó khăn về đường con cái nên từ năm 2019 chị Tra Hà Nội làm ăn kiếm tiền thuê người mang thai hộ. Sau khi chị Tra Hà Nội được một thời gian thì Anh H có người phụ nữ khác nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Cuối năm 2019 do mâu thuẫn trầm trọng nên chị Tchuyển về sống cùng bà và vợ chồng ly thân từ đó đến nay.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị Tvẫn vắng mặt trong các buổi làm việc, các phiên họp công khai chứng cứ và các buổi hòa giải tại Tòa án; chị Tkhông viết bản tự khai, không cung cấp tài liệu, giấy tờ gì.

Tại phiên tòa ngày 28/12/2020: Chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên Tòa án quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên toà ngày 11/01/2021:

Anh Hvắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chị Ttiếp tục vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự, phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành nghiêm quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

+ Anh Nguyễn Hoàng H được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

+Anh Nguyễn Hoàng Hải phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là anh Nguyễn Hoàng H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là chị Nguyễn Thị T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng H và chị Nguyễn Thị T kết hôn năm 2007 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Ngô Quyền,thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, được UBND phường Ngô Quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Qúa trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo Anh Htrình bày do vợ chồng không có con nên chung sống với nhau không hạnh phúc, không có tình cảm, vợ chồng đã sống ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm từ khoảng tháng 8/2019 đến nay. Bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ chị Nguyễn Thị T cũng xác định Anh Hvà chị Tcó mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không có con. Như vậy, Anh Hvà chị Tđã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy việc Anh Hxin ly hôn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[3] Về con chung: Anh Hvà chị Tchưa có con chung, không yêu cầu giải quyế nên HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Hxác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX xem xét.

[ 5] Về án phí: Anh Nguyễn Hoàng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Anh Nguyễn Hoàng H được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Hoàng H phải chịu 300.000đ (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang theo biên lai số AA/2018/0001645 ngày 21/10/2020. Xác nhận Anh Hđã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 11/01/2021 về ly hôn

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:11/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về