Bản án 01/2020/HSST ngày 14/01/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 01/2020/HSST NGÀY 14/01/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 14 tháng 01 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2019/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/HSST-QĐ ngày 08/01/2020 đối với bị cáo:

1. Bị cáo: Nguyễn Văn N, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1962, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT: Tổ 5, phường Q, thành phố C, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Đức T (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Th (đã chết); Vợ Nguyễn Thị V, sinh năm 1968 và 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1995; gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/12/2019 đến ngày 04/12/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C m đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Văn C, sinh năm: 1977;

Địa chỉ: Tổ 2, phường Q, thành phố C, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt).

2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1982

Địa chỉ: Tổ 1, phường Q, thành phố C, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 01/12/2019, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Đ đến đại lý bán vé lô tô “N 38” trước số nhà X, đường Đ, tổ 5, phường Q, thành phố C, tỉnh Lai Châu do Nguyễn Văn N làm chủ đại lý đặt vấn đề ghi lô điểm trái quy định của Nhà nước với N được N đồng ý. Hai bên thống nh t ghi lô điểm: 01 điểm lô bằng 23.000đồng, người chơi ghi số lô (hai số tự nhiên b t kỳ) với N, số lô được coi là trúng nếu trùng với 02 số cuối trong 27 giải của kết quả sổ xố miền Bắc cùng ngày chơi và khi đó N phải trả cho người chơi 01 điểm lô = 80.000đồng. Còn nếu số lô đánh không trùng với số 02 số cuối của 27 giải xổ số thì người mua bị thua và N sẽ được hưởng toàn bộ số tiền người mua bỏ ra.

Nguyễn Văn Đ mua số lô 26 – 62 mỗi số 30 điểm, số lô 85 là 40 điểm, tổng 100 điểm x 23.000đồng = 2.300.000đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng).

N ghi các số lô và một mảnh gi y màu nâu, kích thước 6,5x8,5cm, trên mảnh gi y ghi các số: 26, 62 – 30x; 85 – 40x, ngày 02/12/2019; 230 và chữ ký của “N”, “Đ” đưa cho Đ làm căn cứ trả thưởng và nhận của Đ số tiền 2.300.000đồng.

Nguyễn Văn C mua số lô 85, 58, 97, 79, 98 mỗi số 30 điểm, tổng 150 điểm x 23.000đồng = 3.450.000đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng). N ghi các số lô và một mảnh gi y màu nâu, kích thước 6,5x6cm, trên mảnh gi y ghi các số: 85, 58, 97, 79, 98 – 30x – 150, ngày 02/12/2019; 230 và chữ ký của “N”, “C” đưa cho C làm căn cứ trả thưởng và nhận của C số tiền 3.450.000đồng.

Ngoài ra N còn ghi lại các con số khách mua vào một tờ gi y màu trắng, kích thước 21x14,7cm; một mặt ghi kết quả xổ số ngày 01/12; một mặt ghi các số 26, 62 x30x; 85-40x;85,58,79,97,98x30x và chữ ký “N”.

Khi N đang đưa cáp lô và nhận tiền của C thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu phát hiện bắt quả tang thu giữ 02 mảnh gi y (cáp lô) N ghi cho Đ và C, 01 mảnh gi y màu trắng N ghi lại các con số Đ và C đã mua cùng với 5.75.000đồng là số tiền N vừa ghi lô điểm cho Đ và C có được; 01 bút bi mực đen, màu xanh – trắng, dài 17,5 cm, trên bút ghi “TRUONG SA 06” Nhu dùng để ghi lô điểm cho Đ và C.

Ti cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Các vấn đề khác của vụ án:

Kết quả điều tra xác định, số tiền của Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Đ dùng để đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hơn nữa C, Đ chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa có tiền án về hành vi đánh bạc hay tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo quy định tại các điều 321,322 của Bộ luật hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu đã xử lý hành chính.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKSTP ngày 29/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Ti phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo N từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng Xử lý vật chứng áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 5.750.000đồng; tịch thu, tiêu hủy 01 bút bi mực đen, dài 17,5 cm, màu xanh – trắng , trên bút ghi “TRUONG SA 06” theo quy định của pháp luật; 01 mảnh gi y màu nâu, kích thước 6,5x8,5cm, trên mảnh gi y ghi các số: 26, 62 – 30x; 85 – 40x, ngày 02/12/2019; 230 và chữ ký của “N”, “Đ”; 01 mảnh gi y màu nâu, kích thước 6,5x6cm, trên mảnh gi y ghi các số: 85, 58, 97, 79, 98 – 30x – 150, ngày 02/12/2019; 230 và chữ ký của “N”, “C”; 01 tờ gi y màu trắng, kích thước 21x14,7cm; một mạt ghi kết quả xổ số ngày 01/12; mt mặt ghi các số 26, 62 x30x; 85-40x;85,58,79,97,98x30x và chữ ký “N” đưa vào hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại đối với các quyết định của Cơ quan điều tra Quyết định truy tố của Viện Kiểm sát.

Ti lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Khoảng 17 giờ ngày 02/12/2019 lợi dụng việc làm đại lý bán vé “lô tô” cho Công ty Xổ số kiến thiết tỉnh Lai Châu, tại đường đường Đ, tổ 5, phường Qu, thành phố C, tỉnh Lai Châu Nguyễn Văn N đã ghi lô điểm trái quy định của Nhà nước cho Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Đ nhằm mục đích thu lợi bất chính, khi N đang đưa mảnh gi y ghi các số lô cho C và nhận tiền thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang thu giữ: 02 mảnh gi y ghi số lô, số điểm cùng 5.750.000đồng là số tiền N vừa ghi lô điểm cho C và Đ.

Li khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo Nguyễn Văn N là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật. Nhưng do hám lợi trước mắt bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, hơn nữa còn ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của nhân dân, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng hoặc dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Do đó, quan điểm truy tố của Viện kiểm nhân dân thành phố Lai Châu hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn N không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Hội đồng xét xử xét th y cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét th y không cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Văn N ra khỏi đời sống xã hội mà có thể áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo vẫn đảm được sự răn đe, giáo dục, giúp bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Vì hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với số tiền 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), gồm: 10 tờ polime mệnh giá 500.000đồng, 01 tờ mệnh giá 200.000đồng, 05 tờ pholime mệnh giá 100.000đồng, 01 tờ polime mệnh giá 50.000đồng, Cơ quan điều tra thu giữ là tiền bị cáo do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Xét 01 bút bi mực đen, màu xanh – trắng, dài 17,5 cm, trên bút ghi “TRUONG SA 06” là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Đối với 01 mảnh gi y màu nâu, kích thước 6,5x8,5cm, trên mảnh gi y ghi các số: 26, 62 – 30x; 85 – 40x, ngày 02/12/2019; 230 và chữ ký của “N”, “Đ”; 01 mảnh gi y màu nâu, kích thước 6,5x6cm, trên mảnh gi y ghi các số: 85, 58, 97, 79, 98 – 30x – 150, ngày 02/12/2019; 230 và chữ ký của “N”, “C”; 01 tờ gi y màu trắng, kích thước 21x14,7cm; một mạt ghi kết quả xổ số ngày 01/12; một mặt ghi các số 26, 62 x30x; 85-40x;85,58,79,97,98x30x và chữ ký “N” đều là vật chứng có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội nên đưa vào hồ sơ vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Về các vấn đề khác: Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Đ Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu đã ra quyết định xử lý hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng).

3. Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước đối với số tiền 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)

- Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi mực đen, màu xanh – trắng, dài 17,5 cm, trên bút ghi “TRUONG SA 06” (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 08/01/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu với Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Lai Châu).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân c p trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2020/HSST ngày 14/01/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:01/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lai Châu - Lai Châu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về