Bản án 01/2020/HNGĐ-ST ngày 21/01/2020 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 01/2020/HNGĐ-ST NGÀY 21/01/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 21 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 292/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Vũ Văn T, trú quán: Thôn Đ, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Q, huyện A, thành phố thành phố Hải Phòng. Hiện đang thi hành án phạt tù tại Trại giam Xuân Nguyên, Tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Bộ công an, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 21 tháng 11 năm 2019 và trong các bản tự khai, nguyên đơn là Vũ Văn T trình bày:

Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp thường xảy ra cãi nhau. Gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không thay đổi. Năm 2018 chị Nguyễn Thị H vi phạm pháp luật bị Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xử 27 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hiện nay chị Nguyễn Thị H đang thi hành án phạt tù tại Trại giam Xuân Nguyên, Tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Bộ công an. Nay anh Vũ Văn T thấy tình cảm vợ chồng không còn nên có đơn xin ly hôn với chị Nguyễn Thị H. Về con chung: Anh Vũ Văn T trình bày vợ chồng không có con chung. Về tài sản chung vợ chồng: Anh Vũ Văn T trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn là chị Nguyễn Thị H có bản tự khai ngày 24 tháng 12 năm 2019 trình bày: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn T kết hôn năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, gia đình có khuyên giải nhiều lần. Năm 2018 chị Nguyễn Thị H có bị Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Hương xử 27 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, chị Nguyễn Thị H đang thi hành án tại Trại giam Xuân Nguyên, Tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Bộ công an. Nay chị Nguyễn Thị H thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh Vũ Văn T có đơn xin ly hôn, chị Nguyễn Thị H đồng ý ly hôn với anh Vũ Văn T. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H xác nhận vợ chồng không có con chung. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình. Xử cho anh Tuấn được ly hôn chị Hà; về con chung và tài sản chung: Anh Tuấn và chị Hà đều xác nhận không có con chung và tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Tuấn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về Tố tụng: Tại phiên toà hôm nay, anh Vũ Văn T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; chị Nguyễn Thị H vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 24 tháng 12 năm 2019 có xác nhận của Trại giam Xuân Nguyên, Tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Bộ công an. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị H kết hôn năm 2012 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tình tình không hợp thường xảy ra cãi nhau. Năm 2018 chị Nguyễn Thị H vi phạm pháp luật tại bản án số 61/2018/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xử Nguyễn Thị H 27 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hiện chị Nguyễn Thị H đang thi hành án tại Trại giam Xuân Nguyên, Tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Bộ công an. Nay anh Vũ Văn T thấy tình cảm vợ chồng không còn nên có đơn xin ly hôn, chị Nguyễn Thị H đồng ý ly hôn. Xét mâu thuẫn vợ chồng anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị H đã trầm trọng và kéo dài không có khả năng trở lại đoàn tụ nên anh Vũ Văn T có đơn xin ly hôn với chị Nguyễn Thị H là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

Về con chung: Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị H đều xác nhận vợ chồng không có con chung nên Hội đòng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung vợ chồng: Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị H đều xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và không đề nghị toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: anh Vũ Văn T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 27; khoản 1 Điều 33; khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 131; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1- Cho anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị H được ly hôn.

2- Về án phí: Anh Vũ Văn T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh Vũ Văn T đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0017414 ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, anh Vũ Văn T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3- Về quyền kháng cáo: Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2020/HNGĐ-ST ngày 21/01/2020 về ly hôn

Số hiệu:01/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Lão - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 21/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về