Bản án 01/2019/HS-ST ngày 25/01/2019 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 01/2019/HS-ST NGÀY 25/01/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2019/TLST-HS, ngày 09 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2019/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Nông Văn Đ, sinh năm 1979, tại huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nông Hồng S, sinh năm 1945 và con bà: Nông Thị L, sinh năm 1951. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 157/QĐ-XPVPHC ngày 12/7/2018 của Công an huyện Hàm Yên, xử phạt Nông Văn Đoàn 1.200.000đồng về hành vi Đánh bạc (đã nộp tiền phạt ngày 25/7/2018).

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên tòa).

+ Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nông Văn X, sinh năm 1969, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Anh Bùi Văn T, sinh năm 1989, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Anh Bùi Văn L, sinh năm 1959, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

4. Anh Đinh Văn Th, sinh năm 1981, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang

5. Anh Tạ Văn H2, sinh năm 1978, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

6. Anh Tống Công E, sinh năm 1997, (vắng mặt).

7. Anh Lương Xuân H, sinh năm 1991, (vắng mặt).

8. Ông Tạ Văn Th1, sinh năm 1964, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

9. Anh Hoàng Văn Ng, sinh năm 1994, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn 9, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

10. Anh Chu Văn H1, sinh năm 1996, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn 12, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

11. Ông Lý Văn D, sinh năm 1968, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn 8, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 05/11/2018, Nông Văn Đ, Đinh Văn Th cùng trú tại thôn G, xã H, huyện Y, Lương Xuân H, Tống Công E cùng trú tại thôn A, xã H, huyện Y và Chu Văn H1 trú tại thôn 12 xã H, huyện Y, cùng nhau đến nhà Tạ Văn Th1, trú tại thôn A xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang để chơi và cùng rủ nhau xuống bếp nhà ông Th1 để đánh bạc. Đinh Văn Th chuẩn bị 04 quân bạc bằng tre một mặt bôi đen và dùng 04 lá bài tú lơ khơ để làm bảng vị, Chu Văn H1 lấy một chiếc đĩa sứ và Lương Xuân H lấy một chiếc bát sứ ở bếp nhà Th để làm dụng cụ đánh bạc. Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, Đ, Th, H, E và H1 bắt đầu đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng, H là người sóc cái, mọi người tùy ý chọn cửa chẵn hoặc lẻ để đánh bạc, nếu người đặt cửa chẵn khi mở bát có kết quả chẵn thì người đặt cửa chẵn thắng cược và được lấy về số tiền bằng số tiền đã bỏ ra đặt cược và ngược lại, nếu người đặt cửa chẵn khi mở bát có kết quả là lẻ thì người đặt cược mất số tiền đã bỏ ra đặt cược, sau khi mở bát có 4 quân mầu đen hoặc 4 quân mầu trắng, 2 quân đen và 2 quân trắng ngửa lên là chẵn; nếu 1 quân đen và 3 quân trắng ngửa lên và ngược lại là lẻ, mức cá cược thấp nhất là 10.000đồng. Trong khi đánh bạc thì Nông Văn X, Bùi Văn T, Bùi Văn L cùng trú tại thôn G, xã H, huyện Y, Tạ Văn H2 trú tại thôn A, xã H, huyện Y, Hoàng Văn Ng, trú tại thôn 9, xã H, huyện Y và Lý Văn D, trú tại thôn 8, xã H, huyện Y đến và cùng tham gia đánh bạc. Trong lúc đang đánh bạc Nông Văn Đ, Đinh Văn Th Bùi Văn L, Tống Công E, Nông Văn X, Chu Văn H1, Hoàng Văn Ng và Bùi Văn T tự nguyện đưa cho Tạ Văn Th1 mỗi người 50.000đ để trả tiền điện thắp sáng. Bị cáo Đ và các đối tượng đánh bạc đến 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Hàm Yên phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính, tang vật thu giữ gồm: 4.100.000 tiền Việt Nam đồng; 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bạc bằng tre một mặt bôi đen, 04 quân bài tú lơ khơ.

Quá trình điều tra xác định vai trò và số tiền bị cáo và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc được như sau:

Nông Văn Đ dùng 200.000đ đánh bạc nhiều ván thua, khi bị phát hiện còn 15.000đ, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra; Nông Văn X dùng 1.050.000đ đánh bạc nhiều ván, khi bị phát hiện bị thua còn 850.000đ, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra; Tống Công E dùng 420.000đ đánh bạc nhiều ván, khi bị phát hiện thắng bạc có 1.150.000đ, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra; Lương Xuân H dùng 350.000đ đánh bạc nhiều ván, khi bị phát hiện bị thua còn 170.000đ, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra; Bùi Văn T dùng 300.000đ đánh bạc nhiều ván, khi bị phát hiện thua còn 50.000đ, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra; Lý Văn D dùng 250.000đ đánh bạc nhiều ván, khi bị phát hiện thắng bạc có 650.000đ, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra; Hoàng Văn Ng dùng 155.000đ đánh bạc nhiều ván, khi bị phát hiện bị thua còn 55.000đ, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra; Chu Văn H1 dùng 150.000đ đánh bạc nhiều ván, khi bị phát hiện thắng có 1.100.000đ, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra; Đinh Văn Th cầm bảng vị và dùng 130.000đ đánh bạc nhiều ván, khi bị phát hiện không xác định được thắng thua, bỏ lại toàn bộ tiền tại chiếu bạc; Tạ Văn H2 dùng 100.000đ đánh bạc nhiều ván, khi bị phát hiện bị thua hết tiền; Bùi Văn L dùng 63.000đ đánh bạc nhiều ván, khi bị phát hiện bị thua còn 13.000đ, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra; Tạ Văn Th1 đồng ý cho mọi người đánh bạc tại bếp nhà mình và được mọi người đánh bạc cho tổng số tiền là 350.000đ, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng khai nhận dùng vào việc đánh bạc là 3.168.000đồng;

Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng khi bị bắt thu tại chiếu bạc là 4.100.000đồng. Số tiền chênh lệnh là 932.000đồng.

Cáo trạng số 04/CT-VKSHY, ngày 07/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố đối với Nông Văn Đoàn về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 - Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nông Văn Đoàn theo tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Nông Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 - Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Nông Văn Đ từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Nông Văn Đ.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt tiền sung ngân sách nhà nước từ 10.000.000đồng đến 11.000.000đồng.

Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nông Văn Đoàn đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản vi phạm hành chính, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên đây đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 20 giờ 10 phút đến 22 giờ 30 phút ngày 05/11/2018, tại bếp của gia đình Tạ Văn Th thuộc thôn A, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, Nông Văn Đ đã có hành vi dùng số tiền 200.000đồng cùng với Đinh Văn Th1, Chu Văn H1, Lương Xuân H, Tống Công E, Nông Văn X, Bùi Văn T, Hoàng Văn Ng, Lý Văn D, Tạ Văn H2 và Bùi Văn L đánh bạc bằng hình thức sóc đĩa cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng. Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc được xác định là 4.100.000đ (bốn triệu một trăm nghìn đồng). Số tiền chênh lệnh giữa số tiền do các bị cáo khai nhận và số tiền thu tại chiếu bạc là 932.000đ bị cáo và các đối tượng phải chịu trách nhiệm chung.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm; bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo để lên mức án cho phù hợp.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng: Mặc dù bị cáo có 01 tiền sự nhưng đã là tình tiết định tội nên không sử dụng để đánh giá nhân thân; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự và để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy không cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam, mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Minh Hương, huyện Hàm Yên nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Do bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, nên không khấu trừ thu nhập theo quy định.

[4] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ: 4.100.000 tiền Việt Nam đồng. Thấy rằng đây là số tiền bị cáo và các đối tượng dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bạc bằng tre một mặt bôi đen, 04 quân bài tú lơ khơ đây là tang vật của vụ án, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Đối Đối với Đinh Văn Th, Chu Văn H1, Lương Xuân H, Tống Công E, Nông Văn X, Bùi Văn T, Hoàng Văn Ng, Lý Văn D, Tạ Văn H2 và Bùi Văn L có hành vi đánh bạc; Tạ Văn Th1 có hành vi giúp sức đánh bạc nhưng tổng số tiền đánh bạc trong vụ án dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng trên chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội Đánh bạc hay tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Ngày 29/11/2018, Công an huyện Hàm Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[7] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 321 của Bộ luật hình sự:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 - Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Nông Văn Đ 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn nộp tiền khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với Nông Văn Đ.

Phạt tiền: 10.000.000đồng (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Giao cho UBND xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang quản lý, theo dõi thi hành án theo quy định tại Điều 18 Luật thi hành án Hình sự đối với Nông Văn Đoàn. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã H, huyện Y nhận được quyết định Thi hành bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bạc bằng tre một mặt bôi đen, 04 quân bài tú lơ khơ; tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 4.100.000đồng (Bốn triệu một trăm nghìn đồng).

Tình trạng vật chứng như giấy ủy nhiệm chi ngày 09 tháng 01 năm 2019 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2019 giữa Công an huyện Hàm Yên với Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Yên.

3. Áp dụng các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hay niêm yết bản án./.


86
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2019/HS-ST ngày 25/01/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:01/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Yên - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về